VÀI NÉT VỀ NHÂN VẬT TRƯ BÁT GIỚI TRONG TÁC PHẨM TÂY DU KÍ CỦA NGÔ THỪA ÂN

VÀI NÉT VỀ NHÂN VẬT TRƯ BÁT GIỚI TRONG TÁC PHẨM TÂY DU KÍ CỦA NGÔ THỪA ÂN

Người thực hiện: ThS. Bùi Phương Thảo – Bộ môn Khoa học cơ bản

Độc giả yêu thích văn học cổ điển Trung Quốc không thể không bị cuốn hút bởi sự li kì, hấp dẫn của một trong tứ đại danh tác – Tây du kí. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết kinh điển này không chỉ ở những giá trị hiện thực sắc nét, giá trị nhân văn sâu sắc mà còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật tài hoa của nhà văn Ngô Thừa Ân. Trên cơ sở câu chuyện có thật trong lịch sử và kế thừa nội dung những truyền thuyết trong dân gian về hành trình đi lấy kinh của nhà sư Trần Huyền Trang (Trần Huy) đời Đường, Ngô Thừa Ân đã thổi linh hồn vào cuốn tiểu thuyết, biến chuyện đi lấy kinh của một nhà sư thành một pho huyền thoại kỳ ảo đầy sức hấp dẫn, đặc biệt ở các nhân vật chính của tác phẩm: Tôn Ngộ Không, Đường Tăng, Trư Bát Giới, Sa Ngộ Tĩnh - mỗi nhân vật là một cá tính, một chạm hắc nổi bật, sống động trên nền pho huyền thoại Tây du kí. Trong đó, bên cạnh Tôn Ngộ Không anh hùng quả cảm, Đường Tăng nhân hậu, hiền từ, Sa Tăng kiên trì, điềm đạm, Trư Bát Giới là nhân vật chiếm được cảm tình của nhiều độc giả.

Trư Bát Giới xuất hiện từ hồi thứ 18 của tác phẩm. Y gián tiếp hiện diện trước độc giả thông qua lời kể của Lão Cao – bố vợ của y: “Ba năm trước đây, có một anh chàng...hắn nói là quê trên núi Phúc Lăng, họ Trư, trên không có cha mẹ, dưới không có anh em, xin đến ở rể”. Ngay từ hình dáng, Bát Giới đã được đặc tả với những chi tiết nhiều ấn tượng:

Bèo cám bê bết quanh mồm

Tai như chiếc quạt, mắt tròn vàng hoe

Răng nanh nhọn hoắt gớm ghê

Mõm dài há ngoác đỏ khè đến kinh.

Phải sống kiếp yêu tinh, hình hài xấu xí đến vậy cũng là do trước đây Trư Bát Giới (vốn là Thiên Bồng Nguyên Soái trên thiên đình) dám chọc ghẹo Hằng Nga tiên nữ, bị đày xuống hạ giới.

Về tên gọi, Bát Giới còn có tên khác là Trư Ngộ Năng- do Quan Âm Bồ Tát đặt cho, nghĩa là: “con lợn (tái sinh) nhận ra, ngộ ra khả năng của mình” để ám chỉ việc Bát Giới luôn tự đánh giá bản thân quá cao mà quên mất mình mang một hình hài kinh khủng. Tam Tạng đặt tên “Bát Giới” với ý nghĩa: tám ranh giới bị kiềm chế (không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói bậy, không uống rượu, không trang điểm, không nằm giường quá rộng, ăn chay) nhằm nhắc nhở Bát Giới phải luôn biết tu sửa mình. Đặt tên như vậy, là để Trư ý thức tự kiềm chế bản thân khỏi những dục vọng tầm thường. Song trên con đường thỉnh kinh, trong quá trình diệt dục, Bát Giới đã tỏ rõ những nhược điểm về tính cách.

Điểm trước hết là tham ăn. Trong rất nhiều các nhân vật văn học, có lẽ không ai tham ăn như Bát Giới. Khi nhận hắn ta về Cao Lão Trang ở rể, Lão Cao cũng đã phải kinh ngạc thốt lên: “Dạ dày hắn lại rất lớn, mỗi bữa ăn hết bốn năm đấu gạo! Hắn điểm tâm buổi sáng cũng hơn trăm cái bánh bao mới lửng dạ. Được cái chỉ ăn chay thôi, chứ lại ăn mặn uống rượu nữa thì cơ nghiệp điền sản nhà tôi như thế này chỉ không đến nửa năm là hết sạch sành sanh mất!”. Cũng bởi tham ăn, đến cuối cuộc hành trình tới Tây Thiên thỉnh kinh, khi tất cả các đồ đệ khác của Đường Tăng đều được phong làm Phật hoặc La hán thì Bát Giới chỉ được phong là “Tịnh Đàn Sứ giả” – nhiệm vụ mà Lão Trư có thể ăn thỏa thích những đồ cúng lễ trên ban thờ.

      Phải nói rằng, Trư là một kẻ tinh thần hay dao động. Ngay khi đã nhận lời theo Tam Tạng sang Tây Thiên bái Phật cầu kinh, xong vừa bái từ nhạc phụ, y đã nghĩ ngay: “Thật dại dột, chỉ sợ xảy ra điều gì thì sẽ lỡ cả hòa thượng, lỡ cả vợ con, hóa ra xôi hỏng bỏng không cả. Bát Giới vội phân bua: - Gửi lời chào mẹ vợ, dì lớn, dì bé, anh em rể, cậu, cô, chú, bác, tôi hôm nay đi làm hòa thượng không kịp chào, xin chớ trách. Thưa trượng nhân, bố hãy trông nom nhà con cho cẩn thận, hễ không lấy được kinh trở về hoàn tục, con lại trở về nhà bố ở rể làm ăn như trước”. Cũng vì hay hoang mang, dao động mà Trư mỗi lần gặp khó khăn trên đường thỉnh kinh đều vội vàng đòi chia hành lý, tan đàn xẻ nghé. Hắn thường tỉ tê với Sa Tăng, nói với sư đệ của mình ý đồ đó. Chẳng hạn: “Sa Hòa Thượng, đem ngay hành lí ra đây, chúng mình chia nhau đi! Chia ra rồi chú trở về sông Lưu Sa ăn thịt người như cũ, tôi về Cao Lão trang thăm vợ, anh cả trở về núi Hoa Quả làm thánh, ngựa Bạch Long về bể lớn hóa rồng. Sư phụ đã lấy vợ ở trong động yêu tinh rồi, chúng mình mỗi người ở yên một nẻo”. Tinh thần dao động thiếu quyết tâm đó của Trư còn thể hiện trong những hành động chiến đấu cụ thể. Trong khi huynh đệ gắng sức đánh đuổi yêu quái, hắn quan tâm trước hết đến sự an nguy của mình. Ví dụ: khi đánh với Hoàng Bào lão yêu, thấy không đủ sức chống đỡ, Trư liền bảo Sa Tăng: “Chú hãy tiến lên, đánh với nó, cho tôi đi tiểu tiện một tí”. Nói xong y bỏ Sa Tăng ở đấy, chạy đến đống cỏ, lăn kềnh ra ngáy khò.

Ngoài ra, háo sắc cũng là một trong những điều thuộc giới luật mà họ Trư phạm phải. Vì háo sắc, Bát Giới mất chức Thiên Bồng Nguyên Soái oai phong trên thiên đình, bị đày xuống trần gian. Nguyên do là tội dám trêu ghẹo Hằng Nga. Suốt dọc đường thỉnh kinh, hễ nhìn thấy gái đẹp, Trư Bát Giới - không cần biết đó là người hay yêu quái – ngay lập tức buông lời tán tỉnh. Như khi ở Bàn Tơ Động, ban đầu khi nghe tin sư phụ bị yêu tinh bắt, Bát Giới còn mạnh mẽ nói: “Huynh chỉ lôi thôi sinh hậu họa. Gặp yêu lại không giết, còn làm gì? Theo đệ, trước giết yêu, sau cứu thầy, nhổ cỏ phải nhổ tận rễ”. Ấy vậy mà sau khi thấy bảy nữ yêu nhền nhện đang tắm dưới suối, hắn ta liền lột trần, nhảy xuống tắm cùng. Tật xấu này của Trư có vẻ khó rèn giũa, thay đổi. Chính vì vậy, các vị bồ tát (Lê Sơn Thánh Mẫu, Quan Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát) đã đặt ra một thử thách cho hắn tại trang viên nhà họ Giả. Khi Mụ Giả (Lê Sơn Thánh Mẫu cải trang) có ý gả các con gái cho bốn thầy trò, trong khi Tam Tạng và Ngộ Không, Sa Tăng đều khước từ, chỉ mình Trư vội đáp: “Các người ấy vâng ý chỉ vua Đường, không dám trái lệnh vua, không chịu làm việc ấy. Vừa rồi, bọn họ cứ vun vào cho con ở nhà ngoài, nhưng con còn ngại ngùng, chỉ sợ mẹ lại chê con mồm dài, tai to thôi”. Cuối cùng, thói xấu đó bị trả giá. Chiếc áo lót trân châu, nền gấm của các cô gái biến thành dây thừng trói chặt Trư lại. Những chi tiết thể hiện đặc điểm này của Trư khiến cho người đọc vừa buồn cười, vừa lắc đầu ngán ngẩm.

Chưa hết, Trư Ngộ Năng còn là một kẻ ích kỷ, tự tư tự lợi. Hắn ta hầu như lúc nào cũng chỉ chăm chăm giành điều lợi cho mình, dồn điều hại cho kẻ khác. Trong quãng đường đi Tây Thiên, lúc nào Trư cũng không quên thu tóm bốn đồng cân sáu phân vàng nhét sẵn vào tai, phòng khi tan tác còn có vốn trở về. Hoặc như khi được thưởng đãi những của ngon vật lạ, Trư luôn nhanh nhảu giành trước cho mình. Đoạn nói về ân hưởng được ăn quả nhân sâm ở hồi 24, trừ Đường Tam Tạng sợ hãi không dám động vào, Ngộ Không và Sa Tăng đều thủng thẳng nếm thử, chỉ riêng Bát Giới nuốt luôn chứ chẳng kịp nhai, lại còn đòi thêm một quả nữa để ăn cho rõ vị.

Tuy Trư có nhiều khuyết điểm, nhưng Trư vẫn là nhân vật chính diện. Nhân vật này cũng có một số ưu điểm: khi có mục tiêu cụ thể, vẫn sẵn sàng gắng sức đạt được (như khi ở Cao Lão trang); hay trên đường thỉnh kinh, nhiều lần Trư trợ thủ cho Tôn đánh đuổi yêu quái.

Có thể nói rằng, Trư Bát Giới tập trung cao độ những đặc điểm về tính cách phức tạp của con người trong đời sống thực tế. Ở y có cả hai mặt: tốt – xấu, là tấm gương phản chiếu con người trong quá trình tu chỉnh bản thân, kiểm soát phần xấu, phần tầm thường, rèn luyện phần tốt, hướng tới cái thiện.   Biểu hiện về tính cách của Trư Bát Giới hoàn toàn đối lập với Tôn Ngộ Không. Ngô Thừa Ân xây dựng nhân vật Bát Giới với mục đích thông qua quan hệ hỗ trợ giữa các hình tượng nhân vật nhằm làm nổi bật tư tưởng chủ đề của tác phẩm và những tính cách chủ yếu của các nhân vật. Quan điểm của nhà văn được thể hiện rõ ràng trong cuốn tiểu thuyết mang màu sắc kỳ ảo này chính là: hành trình đầy gian nan của bốn thầy trò đi tới cõi Phật (trong đó có cả quá trình rèn luyện, nỗ lực diệt dục của Trư Bát Giới) là hành trình gian khổ, vượt qua chính bản thân để hoàn thiện nhân cách, khẳng định quyết tâm chiến thắng thiên tai nhân họa của con người.

 

 Nhân vật Trư Bát Giới đã góp phần thể hiện tính hiện thực trong tác phẩm, khiến Tây du kí trở nên gần gũi với độc giả. Cùng với những nét tính cách, hành động, ngôn ngữ, phong thái gây ấn tượng về sự hài hước, dí dỏm mà Ngô Thừa Ân đã “vẽ” cho Bát Giới, sự chân thực của nhân vật này trở thành gạch nối, làm cho cuốn tiểu thuyết tưởng giả tưởng đạt tính chân thực sâu sắc.