LỄ PHÉP, ĐÚNG MỰC - LỊCH SỰ CHUẨN MỰC TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT BIỂU HIỆN QUA CA DAO, TỤC NGŨ, THÀNH NGŨ

LỄ PHÉP, ĐÚNG MỰC - LỊCH SỰ CHUẨN MỰC TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT BIỂU HIỆN QUA CA DAO, TỤC NGŨ, THÀNH NGŨ

POLITENESS AND APPROPRIATENESS - THE POLITENESS FORMS  IN VIETNAMESE  COMMUNICATIONS THROUGH VIETNAMESE FOLK SONGS, PROVERBS AND IDIOMS

                                                                                                                            TS. Vũ Tiến Dũng

Trường Đại học Tây Bắc

Abstract: The recognition of civility in communication in Vietnamese is an obvious fact, but approaching  the politeness in Vietnamese is not quite the same.  The courtesy of Vietnamese are now admitted by many researchers as a synthesis between two aspects : politeness norms and courteous strategy. Politeness and appropriateness belong to politeness norms in communication. The article found that politeness norms are expressed quite clearly to be  the motto of behavious in folk songs, proverbs, and idioms.

 Keywords: Courtesy, politeness, appropriateness, politeness norms

1. Đặt vấn đề

Hiểu một cách giản dị, phép lịch sự là một biểu hiện của quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hoà, các cá nhân tham dự tương tác cảm thấy dễ chịu, thoải mái, góp phần đưa cuộc thoại đến thành công.

            Trong nghiên cứu về lịch sự hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba khuynh hướng khác biệt nhau, khá rõ nét. Một số nhà nghiên cứu về lịch sự Âu - Mĩ căn cứ vào các tài liệu văn hoá phương Tây cho rằng lịch sự có tính chiến lược hay còn gọi là lịch sự chiến lược. Đó là những cách ứng xử ngôn ngữ khéo léo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt, làm gia tăng sự hài lòng của người đối thoại để nâng cao hiệu quả giao tiếp. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu về lịch sự bắt nguồn từ các cứ liệu văn hoá phương Đông lại cho rằng lịch sự phải gắn với những giá trị thuộc về chuẩn mực giao tiếp của cộng đồng xã hội hơn là những ý muốn về sự tự do lựa chọn của cá nhân trong giao tiếp. Đó là lịch sự chuẩn mực (hay có nhà nghiên cứu gọi là lịch sự cộng đồng). Lịch sự chuẩn mực là hành động ứng xử ngôn ngữ phù hợp với chuẩn mực cộng đồng nhằm mục đích tôn trọng các giá trị xã hội như vị thế xã hội, gia đình, tuổi tác, uy tín v.v.. của người nghe và cũng chính là của người nói. Khuynh hướng thứ ba cho rằng lịch sự như là sự tiếp cận tổng hợp quan niệm lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực.

Lịch sự trong tiếng Việt trong một chừng mực cụ thể đã được đề cập đến với những mức độ khác nhau qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi tiên phong trong lĩnh vực này như Đỗ Hữu Châu, Vũ Tiến Dũng, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm...

Xu hướng chung nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt là tiếp thu lí thuyết về lịch sự trong ngôn ngữ học hiện đại và đưa vào khảo sát, phân tích thực tiễn sử dụng trong tiếng Việt hiện nay. Một xu hướng nghiên cứu như vậy là hoàn toàn thoả đáng và cần được khích lệ, nó tránh được sự mò mẫm không phương hướng, hạn chế hiệu quả nghiên cứu. Tuy nhiên, lịch sự là một vấn đề gắn liền với từng xã hội cụ thể cho nên việc tìm kiếm những phương châm, quy tắc về lịch sự có nguồn gốc trong những lí thuyết chung hơn là về những cách xử thế cụ thể sẽ giúp chúng ta nhận ra những biến đổi tất yếu có tính quy luật của xã hội qua những giai đoạn lịch sử trong lĩnh vực giao tiếp bằng ngôn ngữ. Vì lẽ, lịch sự trong ngôn ngữ gắn liền với vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, mà phạm trù chuẩn hoá ngôn ngữ là một phạm trù có tính chất lịch sử, biến động theo thời gian cho nên việc ứng xử lịch sự trong một xã hội cụ thể cũng luôn biến đổi theo thời gian là một hệ quả tất yếu.

Bài viết này không phải là tìm kiếm những phương châm, quy tắc ứng xử lịch sự hợp thời, mà chỉ tìm những cơ sở phần nào tin cậy để xem xét vấn đề lịch sự trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt. Theo cách nhìn nhận vừa nêu, phương châm ứng xử lễ phép, đúng mực thuộc về  lịch sự chuẩn mực trong giao tiếp tiếng Việt, sẽ được xem xét qua những dấu vết được biểu hiện trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ của người xưa để lại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Hai xu hướng nghiên cứu cụ thể về lịch sự trong tiếng Việt

Việc nghiên cứu lịch sự trong tiếng Việt có hai xu hướng khá rõ: một là, bàn đến lịch sự trong tiếng Việt nhân dịp đưa lí thuyết lịch sự vào Việt Nam; hai là, trên cái nền của lí thuyết lịch sự chung, xem xét vấn đề lịch sự trong tiếng Việt một cách ít nhiều có tính chất chuyên môn.

a. Một số các nhà nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt dựa trên cứ liệu của văn hóa Việt Nam đều khẳng định lịch sự trong tiếng Việt thuộc bình diện chuẩn mực xã hội, nghĩa là nó gắn với định ước của xã hội. Người đầu tiên nghiên cứu về lịch sự phải được nhắc đến là Nguyễn Đình Hoà (1956). Trong cuốn Các mô hình ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của ứng xử lễ độ, lần đầu tiên Nguyễn Đình Hoà đã đề cập đến mối tương liên giữa thể diện và ứng xử trong tiếng Việt, trong đó thể diện được hiểu như là sự tự hào về những giá trị xã hội mà mình có được (Dẫn theo [2,tr.46]). 

Trần Ngọc Thêm (1996) giải thuyết rằng trong tiếng Việt, lịch sự gắn với nghi thức lời nói, nghĩa là lịch sự gắn với chuẩn mực xã hội mà ít gắn với chiến lược cá nhân trong tương tác. Tác giả đã đưa ra những nhận xét có vẻ thường tình nhưng lại khá thú vị đối với việc so sánh  nền văn hoá này với nền văn hoá khác. Trong tiếng Việt, nghi thức lời nói trong lĩnh vực các cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Chẳng hạn, người Việt Nam không có một từ xin lỗi, cảm ơn khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây. Người Việt Nam có nhiều cách cảm ơn, nhiều cách xin lỗi khá phong phú trong những ngữ huống giao tiếp khác nhau [7,tr.315].

 Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong cuốn Dụng học Việt ngữ khẳng định lịch sự như một chuẩn mực xã hội, và tác giả viết: "Các nhà văn hoá thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong hành vi văn hoá" [3, tr.100]. Tác giả cho rằng chuẩn mực xã hội trong giao tiếp "không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện ở giọng, ở điệu" [3, tr.100]. Cùng với việc khẳng định lịch sự là chuẩn mực xã hội, tác giả cũng xác nhận rằng “... trong giao tiếp còn một kiểu lịch sự nữa được thực hiện. Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face)” [3, tr.104], và thể diện theo hướng phân tích của tác giả, thì về thực chất là lịch sự chiến lược theo tư tưởng của Brown và Levinson. Lịch sự được tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm là những “nguyên tắc chung trong tương tác xã hội” [3, tr.102]. Những nguyên tắc này có thể bao gồm “sự tế nhị, sự khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác” [3, tr.102]. Những lời nói, câu thơ, ca dao, tục ngữ.. của người Việt là những ví dụ được đưa ra để minh chứng cho nguyên tắc lịch sự mà tác giả đã bênh vực. Trong những nguyên tắc đó, nguyên tắc nhún nhường và khiêm tốn không những thích hợp với người Việt mà còn thích hợp với nhiều dân tộc khác, tức là có tính phổ quát đối với nhiều dân tộc.

b. Đỗ Hữu Châu (2001) khi giới thiệu các lí thuyết lịch sự của Lakoff, của Leech, của Brown và Levinson đã đưa ra một số nhận xét gắn với lịch sự trong tiếng Việt dưới góc nhìn văn hoá rất đáng chú ý. Tác giả cho rằng các siêu chiến lược và các chiến lược, các quy tắc lịch sự của Lakoff, Leech, Brown và Levinson không phải đều đúng cho mọi dân tộc. Lịch sự trước hết là vấn đề văn hoá, là mang tính đặc thù của từng nền văn hoá. Xã hội nào cũng phải lịch sự, có điều cái gì là lịch sự, đến mức độ nào là lịch sự, biểu hiện nào là lịch sự lại bị quy định bởi riêng từng nền văn hoá một [1]. 

c. Vũ Thị Thanh Hương là một trong những người quan tâm nhiều nhất đến lịch sự trong giao tiếp bằng tiếng Việt. Qua công trình nghiên cứu với nhan đề Politeness in modern Vietnamese: A sociolinguistic study of a Hanoi speech community (Lịch sự trong tiếng Việt hiện đại: Một nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở một cộng đồng ngôn ngữ của Hà Nội), tác giả đã phác hoạ một mô hình lịch sự trong tiếng Việt bao gồm các nội dung: lễ phép, tế nhị, đúng mực, khéo léo (Dẫn theo [4, tr.148], trong đó lễ phép được hiểu là một kiểu lịch sự của người bề dưới đối với người bề trên.

Kết quả phân tích của tác giả cho thấy rằng xét trong quan hệ với lịch sự, thì lễ phép và đúng mực nằm ở cùng một bình diện, còn khéo léo và tế nhị nằm ở một bình diện khác, mặc dù ranh giới giữa hai bình diện này không rành mạch. Điều này cho phép khẳng định “lịch sự bao gồm hai bình diện cơ bản là lịch sự lễ độ hay lịch sự tối thiểu (có nội dung chính là lễ phép, đúng mực) và lịch sự chiến lược hay lịch sự xã giao (khéo léo, tế nhị) là có cơ sở" [4, tr. 147]. Theo tác giả, các thể hiện của lịch sự là đúng mực, lễ phép, khéo léo, tế nhị có mối quan hệ đan xen, bao hàm nhau, nhưng không đồng nhất, vừa bao hàm vừa khác biệt, theo kiểu những tập hợp có bộ phận giao nhau. Mối tương quan giữa các yếu tố thể hiện khái niệm lịch sự trong tiếng Việt được tác giả biểu diễn như ở hình dưới đây:

 

 

 

  Mô hình kiểu quan hệ giữa các yếu tố của phép lịch sự  trong tiếng Việt (Nguồn: Vũ Thị Thanh Hương, 2000. tr. 148)

d. Xác định mô hình lịch sự trong tiếng Việt qua cứ liệu văn hóa, văn học dân gian Việt Nam, Vũ Tiến Dũng đã đưa ra bốn tiêu chí của phép lịch sự trong tiếng Việt: Lễ phép, đúng mực (thuộc bình diện lịch sự chuẩn mực) và khiêm nhường,  khéo léo (tế nhị) (thuộc bình diện lịch sự chiến lược). Và lịch sự trong tiếng Việt là sự dung hợp của hai bình diện: lịch sự chuẩn mực và lịch sự chiến lược [2].

Một số luận văn thạc sĩ giai đoạn gần đây thường vận dụng lí thuyết lịch sự của các nhà nghiên cứu Âu - Mĩ và các kết quả nghiên cứu về mô hình lịch sự trong tiếng Việt để vận dụng vào việc phân tích tính lịch sự của hành động nói, các sự kiện nói trong giao tiếp tiếng Việt.

2.2. Các biểu hiện của lịch sự chuẩn mực qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ

2.2.1. Ngữ liệu và phương pháp

Có một điều kì lạ chúng tôi nhận thấy qua nguồn ngữ liệu văn học dân gian Việt Nam mà biểu hiện cụ thể trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ cũng chứa đựng không ít những biểu hiện về phép lịch sự có thể đối chiếu với bộ thuật ngữ của lí thuyết lịch sự hiện đại. Bắt đầu từ nhận thức này, chúng tôi thử xác định những biểu hiện cụ thể của lịch sự trong tiếng Việt. Đó là con đường tìm hiểu qua những tư liệu dân gian qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về các quan niệm và các bài học truyền thống về cách xử thế, nói năng của người Việt liên quan đến phép lịch sự. Đây là nguồn ngữ liệu rất đáng tin cậy về mặt khoa học, bởi lẽ văn hóa ứng xử của một dân tộc là một trong những phương tiện quan trọng lưu giữ được những giá trị thuộc về tinh hoa văn hoá dân tộc; đồng thời nó cũng là phương tiện quan trọng biểu hiện và góp phần thúc đẩy văn hoá dân tộc phát triển. Trong suốt chiều dài lịch sử với những biến động, biến cố cực kì phức tạp, tiếng Việt vẫn tồn tại, phát triển, góp phần xây dựng và phản ánh những tư tưởng, tình cảm, lẽ sống trong sáng, lành mạnh và phong phú của con người Việt Nam. Văn hoá giao tiếp - một bộ phận cấu thành của văn hoá dân tộc - chứa đựng những phương châm ứng xử tinh tế, lịch lãm của con người Việt Nam. Trong số những câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ trong kho tàng văn hoá dân gian của người Việt có một bộ phận đáng kể nói về lời ăn, tiếng nói, về cách ứng xử đã góp phần tạo nên dáng vẻ riêng của văn hoá giao tiếp Việt Nam mà đến ngày nay vẫn còn những giá trị hiện hữu, hợp thời. Ngữ liệu thu thập được của chúng tôi là những câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ nói về văn hoá ứng xử của người Việt thường gặp trong giao tiếp thường ngày gắn với phương diện lịch sự chuẩn mực.

Về mặt phương pháp, chúng tôi cho rằng ca dao, tục ngữ, thành ngữ chứa đựng những tri thức, những nếp sống không phải là của muôn đời, nên việc nghiên cứu chúng trong lĩnh vực này chỉ nhằm góp phần làm sáng tỏ, khẳng định những gì có tính chất truyền thống tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt mà đến ngày nay vẫn còn giá trị, nhất là trong thời kì mở cửa, hội nhập hiện nay. Một số lời răn dạy về các phương châm xử thế xưa, chẳng hạn như chém cha không bằng pha tiếng, có lẽ không thích hợp với bối cảnh ngày nay, sẽ không được tính đến, thu thập làm ngữ liệu phân tích tính lịch sự trong tiếng Việt.

Để phục vụ thuận lợi cho nghiên cứu, chúng tôi sử dụng bộ khái niệm công cụ hiện đại của lí thuyết lịch sự trong quá trình xem xét các hiện tượng hữu quan, vì trên thực tế những hiện tượng về lịch sự xưa kia mà đến ngày nay vẫn còn hợp thời, trong chừng mực nhất định, đều có thể khuôn được vào các khái niệm ấy.

2.2.2.  Các biểu hiện của  lịch sự chuẩn mực         

          Về phép lịch sự trong tiếng Việt, xét theo ph­ương diện lịch sự chuẩn mực, trước hết có thể gặp câu tục ngữ với t­ư cách là một lời răn dạy xử thể đúng đối với mọi ng­ười trong giao tiếp   và trong ứng xử xã hội:

Kính trên, nh­ường d­ưới. [7]

Trong câu nói chỉ có 4 tiếng đó chứa đựng ph­ương châm xử thế lịch sự rất sâu sắc: đối với ng­ười bậc trên thì lấy “kính” làm trọng, đối với ng­ười bậc d­ưới thì lấy “như­ờng” làm mực th­ước; đó là chuẩn mực của sự tôn trọng tính lịch sự. Lí thuyết lịch sự hiện đại đã phân biệt kính ng­ười trên là lễ phép, nh­ường ng­ười dư­ới là đúng mực. Và những hiện tư­ợng trong đời sống xã hội liên quan đến “kính trên” và “nhường d­ưới” đã có trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ tự thuở nào, mà xem ra không khác mấy với nội dung của lí thuyết hiện đại trong lĩnh vực này.

Xét một cách khái quát qua câu tục ngữ trên đủ thấy ngư­ời x­a vừa quan tâm đến chuẩn mực của phép lịch sự, lại vừa quan tâm đến cách thức để đạt đ­ược chuẩn mực lịch sự đó, mặc dù ng­ười xư­a chư­a có đ­ược trong tay cái gọi là “lí thuyết lịch sự” như­ bây giờ.

Vậy, việc xem xét tính lịch sự qua di tích trong văn hoá tinh thần dân gian sẽ góp phần khẳng định tính đúng đắn của lí thuyết hiện đại, và góp phần chứng minh rằng dân tộc Việt Nam đã có một lối sống thực sự lịch sự từ lâu đời, xứng đáng với một dân tộc độc lập và có chủ quyền, cả ở phư­ơng diện đời sống tinh thần.

2.2.2.1 Lễ phép

Từ điển tiếng Việt cho rằng lễ phép “được coi là đúng mực đối với người trên, tỏ ra có lòng kính trọng” [5,727]. Theo cách hiểu này thì lễ phép được hiểu chung nhất là đúng mực với người trên mà biểu hiện cụ thể ở lòng kính trọng người trên. Cách hiểu này phù hợp với văn hoá ứng xử truyền thống của người Việt.

Trong gia đình và xã hội Việt Nam, tính tôn ti trong quan hệ liên nhân thể hiện rất cao. Ngư­ời Việt trong giao tiếp xã hội rất nhạy cảm với các thuộc tính quan hệ như­ vị thế, quyền lực, tuổi tác, giới tính, uy tín xã hội… của cá nhân. Thái độ ứng xử đối với ng­ười bề trên trong gia đình và trong xã hội, ngay trong truyền thống, phải đạt đến tiêu chuẩn của sự lễ phép, thể hiện ở lòng tôn kính, thoả mãn tiêu chuẩn “kính” đối với ng­ười trên trong giao tiếp.

Lễ phép không phải là thứ của cải bẩm sinh, muốn đạt đ­ược lễ phép trong giao tiếp ngôn ngữ thì mỗi cá nhân phải học tập, và đối với phép lịch sự thì thông thư­ờng phải học ngay từ thuở còn thơ. Không ít em bé vì thuở ấu thơ không đ­ược quan tâm dạy lời “thư­a gửi”, về sau th­ường ăn nói “cộc lốc”. Việc dạy cách nói năng đối với trẻ ấu thơ đã đư­ợc cha ông ta chú ý:

Học ăn, học nói, học gói, học mở. [7]

Trẻ con không phải chỉ cần ăn (học ăn); các em cần học cả nói năng (học nói), học cả những cách khéo léo trong mọi lĩnh vực (học gói, học mở), vật chất cũng như­ tinh thần, cũng như­ trong mọi thứ quan hệ.

Bài học lễ phép quan trọng đầu tiên cần dạy cho con trẻ trong việc nói năng là lễ phép với những ng­ời gần gũi, thể hiện ở mấy câu:

Bảo: vâng; gọi: dạ, con ơi.

Vâng lời sau tr­ước con thời chớ quên. [2]

Với ngư­ời không phải là con trẻ nữa, việc giáo dục tính lịch sự lại đi vào một chiểu hư­ớng khác. Sự tôn kính ng­ười trên, thuộc về tinh thần, đã đư­ợc đánh giá là hơn trội qua việc so sánh với những giá trị vật chất đầy đủ đáng kể trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế của thời xư­a:

Lời chào cao hơn mâm cỗ. [2]

Lời chào đ­ược đánh giá là quý giá và cần thiết hơn là lời mời đi ăn cỗ. Một quy tắc lịch sự chuẩn mực không thành văn là khi hai ngư­ời có quan hệ xã hội gặp nhau, ng­ười bậc dư­ới bao giờ cũng phải chào ngư­ời bậc trên tr­ước. Ngư­ời bậc d­ưới không chào ngư­ời bậc trên thì bị xã hội xếp vào số những ng­ười vô lễ.

Còn trong việc giao tiếp nói chung, lời khuyên dạy là phải nói “đâu cho ra đấy”, không được “lúng ba lúng búng”, trong đó có cả những lời đ­ưa đẩy khi giao tiếp phải nói cho rõ ràng, mạch lạc:

Ăn cho nên đọi, nói cho nên lời. [5]

Lớn khôn đôi chút, biết đi học thì:

Tiên học lễ, hậu học văn.

Trong việc ứng xử đối với các bậc tuổi tác thì một lời khuyên có gốc từ Trung Hoa, và bao giờ cũng đúng là:

Kính lão đắc thọ. [5]

Và ngư­ời bình dân thì diễn Nôm thành:

Kính già, già để tuổi cho. [2]

Kính trọng các bậc cao niên, các bậc vai trên luôn là một yêu cầu thuộc về quy tắc ứng xử trong xã hội. Chẳng hạn, trong gia đình, con cháu phải biết tôn kính, " hiếu",  " lễ" với ông bà, bố mẹ. Lời khuyên nhủ sau đây qua câu ca dao nhẹ nhàng mà thấm thía:

            Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. [2]

Ngoài xã hội, ai đi học cũng nhận đư­ợc sự răn dạy luôn phải kính trọng người thầy:

Nhất tự vi sư­, bán tự vi s­ư (một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy).

Như­ vậy, ứng xử nói chung và ứng xử bằng ngôn ngữ nói riêng, của ngư­ời bậc d­ưới đối với ngư­ời bậc trên phải tuân theo chuẩn mực của sự lễ phép mới phù hợp với tập tục, với cách nhìn nhận có tính chất truyền thống từ lâu đời của ng­ười Việt Nam, những cách đánh giá mà đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Ứng xử bằng ngôn ngữ không lễ phép nhiều khi gây nên những hậu quả không lư­ờng trư­ớc đư­ợc:

Lỡ chân còn có cây sào,

Lỡ miệng biết nói làm sao bây giờ ? [2]

“Lỡ miệng” tức là ứng xử bằng ngôn ngữ không đúng phép tắc, làm mất lòng người nghe, và với ngư­ời nghe là bậc trên thì đó cũng là thiếu lễ phép. Muốn tránh đ­ược “lỡ miệng” thì hãy nhớ câu:

Ăn có nhai, nói có nghĩ. [7]

Hay là:

Chó ba khoanh mới nằm, ng­ười ba năm mới nói. [7]

Nếu ai đó ứng xử không lễ phép, hay vô lễ, thể hiện qua việc không tôn kính ng­ười bậc trên, thì bị xã hội coi là hỗn láo, xấc x­ược, là hạng ngư­ời đối xử theo cách:

Cá đối bằng đầu.

Hay:

Cá mè một lứa. [2]

Nếu ai đó còn hỗn láo hơn nữa, thì bị coi như­ một con vật có cấu tạo cơ thể ngư­ợc thư­ờng:

Nòi nhà tôm, cứt lộn lên đầu. [2]       

Tuy nhiên, trong ứng xử, lễ phép cần phải đ­ược phân biệt với xun xoe nịnh bợ. Cả hai biểu hiện có tính chất thái cực là vô lễ và xun xoe nịnh bợ đều không phù hợp với thái độ lễ phép của phạm trù lịch sự.

2.2.1.2 Đúng mực

Ng­ười bậc d­ưới đối với ngư­ời bậc trên phải lễ phép, và ngư­ời bậc trên phải có thái độ đúng mực với ngư­ời bậc d­ưới, như­ là một sự “có đi có lại” và như­ thế thì “mới toại lòng nhau”. Dù rằng là ngư­ời bậc trên, như­ng nếu không đúng mực với ng­ười bậc dư­ới thì cũng không đ­ược thừa nhận như­ một ng­ười biết “giữ lễ”, không xứng với danh nghĩa “bậc đàn anh”.  Ng­ười Việt Nam trong giao tiếp, dù là ở bậc dưới, vẫn sẽ cảm thấy thể diện bị xúc phạm nếu ng­ười bề trên ứng xử không đúng mực với mình.

Từ điển tiếng Việt hiểu khái niệm “đúng mực” khá rộng, gắn với chuẩn mực ứng xử trong xã hội: “đúng đắn, có chừng mực, theo đúng khuôn phép trong cách cư xử” [6,tr.467]. Theo nhận thức của chúng tôi, ứng xử đúng mực thường là thái độ của bậc trên đối với người bậc dưới hoặc đối với những người ngang bậc. Cái đức “đúng mực” lớn nhất của ngư­ời bậc trên là độ l­ượng. Ng­ười bậc dưới “chịu nhịn” ng­ười bậc trên có vẻ không khó, còn ngư­ời bậc trên “độ l­ượng” đối với ng­ười bậc d­ưới thì phải có cơ sở trong tình thương. Có những bài học xa xôi, như­ng không phải là không gắn với sự độ lư­ợng trong cách xử sự đúng mực:

                        Th­ương nhau cau sáu bổ ba,

               Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mư­ời. [5]

Khi nghe phải lời “trái tai gai mắt”, ng­ười lịch sự đều nhớ đến ph­ương châm:

Chín bỏ làm m­ười. [7]

“Chín bỏ làm m­ười” là lời khuyên hãy độ lư­ợng, cũng tức là hãy đúng mực từ phía ng­ười nghe nói chung, và đặc biệt là khi ngư­ời nghe thuộc bậc trên trong quan hệ với ngư­ời bậc d­ưới, hoặc khi hai ngư­ời ngang bậc nhau.

Hành động hứa về mặt lí thuyết là trung hoà đối với bậc trên cũng như­ bậc dưới. Thế như­ng trên thực tế sử dụng ngôn ngữ, hành động hứa rõ ràng là có ý nghĩa ràng buộc nhiều hơn đối với ng­ười bậc trên, ng­ười bậc d­ưới thất hứa ít bị chê trách hơn ng­ười bậc trên hay ng­ười cùng bậc với nhau. Cho nên để ngăn ngừa sự thất hứa, tục ngữ đã có cách nói đầy hình ảnh (và hình như­ trư­ớc hết là dùng trong lĩnh vực tình yêu nam nữ) mà mọi ng­ười đều có thể sử dụng trong hoàn cảnh thích hợp:

Nói lời phải giữ lấy lời,

Đừng như­ con b­ướm đậu rồi lại bay. [5]

Con bư­ớm đậu rồi con b­ướm bay, trong con mắt của ngư­ời quan sát là những hành động có tính chất tự nhiên, không có sự can thiệp của tư­ duy, của trách nhiệm. Sự ví von nh­ư vậy là sự ràng buộc vào trách nhiệm giữ lời hứa thật khéo léo, thật tài tình: một sợi dây trói buộc vô hình mà vững chắc !

Đối với những ng­ười hay thất hứa, ngư­ời ta mư­ợn lần hứa này để dè chừng lần hứa khác, buộc ng­ười hứa phải biết tự trọng bằng cách coi trọng chữ "tín". Điều đó đã đ­ược gửi gắm vào câu tục ngữ mang màu sắc lời cảnh cáo:

Một lời thất tín, vạn sự không tin. [7]

Giữ chữ " tín" trong hành động ư­ớc kết là biểu hiện cụ thể trong ứng xử đúng mực của ng­ời Việt, nhất là của ng­ười bậc trên đối với ngư­ời bậc d­ưới.

Với những ngư­ời trư­ởng thành trong cùng một bậc, sự đúng mực trong ứng xử th­ường đ­ược nhắc nhở d­ưới những hình thức lời khuyên theo kiểu tự soi mình:

Nói ngư­ời phải ngẫm đến ta,

            Thử sờ lên gáy xem xa hay gần. [6]

            Còn nh­ư nói ng­ười để mà chê bai, giễu cợt thì phải coi chừng:

                        Cư­ời ngư­ời chớ có c­ười lâu,

            C­ười ng­ời hôm trư­ớc hôm sau ng­ười c­ười ! [5]

Cứ làm theo chừng ấy lời tâm niệm của ngư­ời xư­a thì cũng đã đủ để có một thái độ ứng xử ít nhiều đáp ứng đ­ược các chuẩn mực của phép lịch sự Việt Nam.

Phép lịch sự của Việt Nam cũng bắt buộc ng­ười nói phải có trách nhiệm và phải trung thực, tránh dùng lời nói để thực hiện những ý đồ đen tối. Lời khuyên có tính chất cảnh cáo đối với những người có âm m­ưu là:

Lời nói đọi máu. [7] 

Lời nói giết ngư­ời, ai còn dám coi thư­ờng coi khinh, nhất là những ngư­ời bề trên đối với kẻ d­ưới, theo tiêu chuẩn đúng mực.

Còn những ng­ười tâm địa nham hiểm, bất chấp mọi lời khuyên răn, cảnh cáo, sẵn sàng đơm đặt, vu vạ trắng trợn hoặc ngấm ngầm làm hại ng­ười khác, không cần biết đến lễ phép cũng nh­ư đúng mực thì đ­ược ng­ười đời liệt vào số những kẻ:

Miệng nam mô, bụng bồ dao găm. [6]

Với những ngư­ời như­ vậy, thì tốt nhất là nên lánh xa, để khỏi mang vạ vào thân.

Như vậy, xét theo quy tắc ứng xử của người Việt, đúng mực trong ứng xử là những giá trị xã hội tích cực mà người Việt hướng tới, và những giá trị đó thuộc về lịch sự chuẩn mực.

3. Kết luận

Việc xem xét tính lịch sự qua di tích trong văn hoá tinh thần dân gian sẽ góp phần khẳng định tính đúng đắn của lí thuyết lịch sự hiện đại, và góp phần chứng minh rằng dân tộc Việt Nam đã có một lối sống thực sự lịch sự từ lâu đời, xứng đáng với một dân tộc độc lập và có chủ quyền, cả ở phương diện đời sống tinh thần. Trong bối cảnh đất nước ta đang hội nhập một cách mạnh mẽ như hiện nay, việc tìm thấy những điểm tương đồng và những điểm dị biệt trong văn hóa giao tiếp của người Việt với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới sẽ giúp cho quá trình hội nhập có hiệu quả hơn mà vẫn giữ được bản sắc, tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Bài viết là một tiếng nói chỉ ra một số biểu hiện của lịch sự chuẩn mực: Lễ phép, đúng mực trong ứng xử của người Việt được tìm thấy qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Phép lịch sự của người Việt vừa gần gũi với văn hoá ứng xử của người phương Đông nói chung, lại mang dáng vẻ riêng của văn hoá ứng xử Việt Nam. Đây là một vấn đề thú vị, hi vọng sẽ nhận được sự chỉ giáo của bạn đọc gần xa.

(Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống  số 10 (252) 2016)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học, tập hai, Nxb Giáo dục.

2. Vũ Tiến Dũng (2007), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính, Nxb Giáo dục.

3. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Vũ Thị Thanh Hương (2000), "Lịch sự và phương thức biểu hiện tính lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt", Ngôn từ, giới và nhóm  xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.135 - 175.

5. Vũ Ngọc Phan (1994), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội.

6. Hoàng Phê (chủ biên cùng tập thể tác giả) (2014), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học Hà Nội – Nxb Đà Nẵng.

7. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.