MỘT SỐ BIỂU HIỆN SỰ KÌ THỊ GIỚI TÍNH QUA CÁC TÍN HIỆU NGÔN TỪ TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM

   MỘT SỐ BIỂU HIỆN SỰ KÌ THỊ GIỚI TÍNH QUA CÁC TÍN HIỆU NGÔN TỪ TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM

                                                                  

                                                                                             TS. Vũ Tiến Dũng

Tóm tắt: Kì thị giới tính trong ngôn ngữ là một hiện tượng phổ quát trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học xã hội. Bài viết đề cập tới một hiện tượng kì thị giới tính được biểu hiện khá rõ với nhiều nội dung khác nhau qua các tín hiệu ngôn từ trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.

Abtract: Gender discrimination - a universal phenomenon in language is getting more and more attraction of researchers of social linguistics worldwide. This article refers to the gender discrimination phenomenon which is quite clearly expressed in many different aspects via the language signals like folk-songs and proverbs in Vietnamese

1. Mở đầu

Con người trong lịch sử hình thành và phát triển đã sáng tạo ra vô vàn những giá trị vật chất cũng như tinh thần nhằm phục vụ cho cuộc sống của mình. Một trong những sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó chính là việc sáng tạo ra ngôn ngữ (Language). F.de. Saussure cho rằng “ngôn ngữ là một hiện thực xã hội"(Dẫn theo[4, tr.7]), nó góp phần không nhỏ trong việc phản ánh thực trạng - hình thái ý thức xã hội mà nó đang tồn tại. Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ học xã hội hiện nay là vấn đề giới tính trong ngôn ngữ. Việc nghiên cứu  ngôn ngữ và giới tính có hai hướng tiếp cận chính: ngôn ngữ của giới và quan niệm giới tính (sexism) trong ngôn ngữ. Hướng ngôn ngữ của giới chuyên nghiên cứu sự khác biệt trong cách dùng một ngôn ngữ giữa nữ giới và nam giới. Hướng quan niệm giới tính trong ngôn ngữ chỉ ra cách dùng các tên gọi nghề nghiệp, chức danh thường là những từ chỉ nam giới mặc dù đương sự là nữ giới, tức là không có một tên gọi dành cho nữ giới. Do đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng có tình trạng trọng nam khinh nữ, thiếu bình đẳng trong cách dùng một ngôn ngữ cụ thể. Bài viết nhỏ này tập trung vào hướng thứ hai - quan niệm giới tính trong ngôn ngữ - sẽ phác thảo một cách nhìn có tính chất truyền thống về sự kì thị giới tính (trọng nam khinh nữ) bộc lộ qua ngôn từ trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. 

2. Về khái niệm kì thị giới tính trong ngôn ngữ

Theo Từ điển tiếng Việt, kì thị là sự phân biệt đối xử do thành kiến (thường nói về thái độ đối với các dân tộc) [9, tr.516]. Hiểu theo hướng này thì sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ là sự phân biệt đối xử do thành kiến xã hội về giới tính trong ngôn ngữ. Sự phân biệt đối xử do thành kiến có nghĩa là sự coi trọng người này và coi khinh người kia do thành kiến xã hội về một mặt nào đó là sự biểu hiện ý nghĩa của từ kì thị. Tuy nhiên, với cách hiểu như vậy, dung lượng của một thuật ngữ có vẻ như chật hẹp, không  thuận lợi trong quá trình sử dụng tiếp theo.

Trần Xuân Điệp cho rằng kì thị là sự coi khinh người này và coi trọng người kia về một mặt nào đó do thành kiến xã hội. Trong xã hội loài người đang tồn tại nhiều hình thức kì thị như: kì thị tín ngưỡng, kì thị về sắc tộc, kì thị về tuổi tác, tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế hay tình trạng hôn nhân v.v.. Tất cả những hình thức kì thị đó đều được biểu đạt rất rõ trong ngôn ngữ. Chẳng hạn, với các cách nói như: “mặt búng ra sữa” là biểu hiện sự kì thị về tuổi tác - coi thường tuổi trẻ hay “người dân tộc mà! Có biết gì đâu” là thể hiện sự kì thị về dân tộc - coi thường sự hiểu biết của người dân tộc.

Miller & Swift (1972) định nghĩa: "Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ hay ngôn ngữ mang tính kì thị giới tính là bất kì cách diễn đạt nào thể hiện thái độ và sự trông mong về giới hoặc bất kì cách diễn đạt nào thể hiện tính trội cố hữu của giới này so với giới kia." (Dẫn theo [4, tr.12])

Kì thị giới tính (KTGT) được hiểu là sự coi thường giới này và coi trọng giới kia. Một biểu hiện rất cụ thể của sự KTGT trong xã hội loài người là tư tưởng trọng nam khinh nữ. Như vậy, trong ngôn ngữ KTGT là sự biểu đạt bằng ngôn ngữ qua hình thức rất dễ nhận thấy, đó là sự coi thường nữ giới - coi trọng nam giới.

3. Các tín hiệu ngôn từ thể hiện sự kì thị giới tính trong ca dao, tục ngữ Việt Nam

3.1 Nữ giới thường gắn với tính thụ động – nam giới thường gắn với tính chủ động

Sự thiếu cân đối về mặt ngữ nghĩa được thể hiện trong cặp đối lập giữa nữ giới gắn với tính bị động và nam giới gắn với tính chủ động. Theo Nilsen (1990) cho rằng sự sử dụng ngôn ngữ trong thực tế đã thể hiện quan niệm định kiến về văn hóa, đó là nữ giới đóng vai trò bị động hoặc yếu đuối còn nam giới lại luôn giữ vai trò chủ động hoặc mạnh mẽ. Đặc điểm chung này về giới được thể hiện rất rõ trong ca dao Việt Nam:

                        Bây giờ mận mới hỏi đào

                        Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?

         Hình ảnh ẩn dụ “mận” trong tư duy của người Việt luôn là nam giới, còn hình ảnh ẩn dụ “đào” trong tư duy của người Việt luôn là nữ giới vì hình ảnh “mận” gắn với tính chủ động: "hỏi đào", còn “đào” gắn với sự bị động - bị mận hỏi. Tính chủ động gắn với nam giới, tính bị động gắn với nữ giới đã nâng lên thành tính biểu trưng trong tư duy của người Việt. Chúng ta dễ dàng nhận ra được hình ảnh ẩn dụ "thuyền"- luôn di chuyển, chủ động để chỉ nam giới, hình ảnh ẩn dụ "bến" - cố định, thụ động để chỉ nữ giới trong câu ca dao sau:

                                             Thuyền về có nhớ bến chăng

                                    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Sự chủ động của nam giới trong tình yêu cũng được thể hiện khá mạnh mẽ trong câu ca dao:

                                            Gặp đây anh nắm cổ tay

                                Anh hỏi câu này có lấy anh không?

            Nữ giới trong xã hội xưa không có quyền chủ động trong tình yêu lứa đôi, họ không có quyền chủ động bày tỏ tình cảm của mình với nam giới:    

                                                Bồ câu mà đỗ nóc nhà

                                                Mấy đời đàn bà đi hỏi đàn ông.

Trong xã hội phong kiến, họ bị biến thành nô lệ cho những luật lệ, những ràng buộc hà khắc của lễ giáo phong kiến với những quan niệm cổ hủ lạc hậu. Họ không có quyền quyết định cho  số phận của mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào bởi quy định “tam tòng” nghiệt ngã : “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Điều ràng buộc ấy dẫn theo bao bất hạnh của người phụ nữ:

                          Thân em như tấm lụa đào

                          Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

                          Thân em như hạt mưa sa

                          Hạt vào giếng ngọc, hạt ra ruộng cày

             Khi cất lên lời than thân, họ so sánh “thân em…” với những hình ảnh mong manh, yếu đuối như "tấm lụa đào", "hạt mưa sa". Những hình ảnh so sánh ấy làm nổi bật thân phận bơ vơ, bất trắc và bị động, lệ thuộc của người phụ nữ trong xã hội xưa.          

             3.2. Nữ giới gắn với sắc dục – nam giới gắn với tài năng

         Người Việt nêu lên một quan niệm sống, đánh giá nam - nữ rất khác biệt và đó là biểu hiện sự KTGT rất rõ:

                                 Trai thời trung hiếu làm đầu

                            Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

      Nam giới lấy "trung hiếu" làm lẽ sống, nữ giới hướng mục tiêu giữ gìn "tiết hạnh". Khi nói "trinh tiết", “trinh tiết” thì phần lớn người nghe đều hiểu đó là sự ám chỉ phụ nữ. Quan niệm sống và sự lựa chọn bạn đời trong quan hệ lứa đôi của nữ giới thiên về mặt mặt tài năng; còn nam giới thiên về sắc đẹp là cách nhận thức theo lẽ thường của người Việt:

                                    Gái tham tài, trai tham sắc             

      Nhưng đọc tới câu: “Thứ nhất thịt bò tái, thứ nhì gái đương tơ", chúng ta thấy bộc lộ sự KTGT: xã hội đánh giá giá trị của nữ giới chủ yếu về mặt thể xác, sắc dục.

     Chính vì vậy, đại bộ phận những người Việt Nam đều cho rằng việc quan trọng nhất của nữ giới trong cuộc đời họ chính là gia đình (chồng con) còn người nam giới lại đặt sự nghiệp lên hàng đầu.

      Trai thì: Lập chí cho bền, chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn con.

      Gái thì: Lấy chồng cho bõ tấm chồng

                     Bõ công trang điểm má hồng răng đen.

            3.3. Nữ giới gắn với liên tưởng tiêu cực – nam giới gắn với liên tưởng tích cực

          Trong ứng xử, nhìn nhận về giới, người Việt luôn quan niệm nữ giới - đàn bà luôn đi liền với nghĩa tiêu cực. Đơn cử, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không khó khăn lắm để bắt gặp những câu nói như: “nói dai như đàn bà” hay “đái không qua ngọn cỏ”… ám chỉ sự thiển cận của người phụ nữ. Trong ca dao, tục ngữ, người ta cũng gán cho nữ giới những phẩm chất trí tuệ luôn thua kém nam giới. Về trí tuệ thì:

                              Khôn ngoan cũng thể đàn bà

                              Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông.

Hay

                              Đàn ông nông nổi giếng khơi

                              Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

                  Khổng Tử đã từng cho rằng: “chỉ có đàn bà và tiểu nhân là hạng khó dạy. Khi ta gần thì họ nhờn, xa thì họ oán”  hoặc "phụ nhân nan hóa". Chính vì xuất phát từ quan niệm này nên tính định kiến về giới lại càng được thể hiện rõ nét và nổi bật hơn cả là trên phương diện quan niệm về công việc sự nghiệp của nam và nữ. Nam giới trong ca dao, tục ngữ bao giờ cũng thể hiện sinh ra là để làm những công việc lớn:

                                                Đã sinh ra kiếp đàn ông

                                                Đèo cao, núi thẳm, sông cùng sá chi.

         Với người đàn ông, không ai chịu bị mang tiếng là bất lực hay núp váy vợ…Dư luận xã hội luôn chế nhạo, mỉa mai với người đàn ông không làm được những việc lớn:

                                                Làm trai cho đáng nên trai

                                                Khom lưng, gắng sứ, gánh hai hạt vừng.

            Có thể nói, chính quan niệm "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" đã gây nên những sự bất công đối với phụ nữ mà chính bản thân người đàn ông cũng phải chịu nhiều sức ép trong cuộc sống: Họ buộc phải là người thành đạt: người xây nhà. 

              Nếu như quan niệm đàn ông là trụ cột trong gia đình, là người làm việc lớn thì phụ nữ lại làm những việc vặt như cơm nước, bếp núc quét nhà:

                                                Vắng đàn ông quạnh nhà

                                                Vắng đàn bà quạnh bếp.

             Nếu chẳng may người phụ nữ nào không hoàn thành tốt việc bếp núc thì người ấy bị coi là chẳng phải đàn bà:

                                                   Đàn bà chẳng phải đàn bà

                                    Thổi cơm cơm khét, muối cà cà chua.

           Bên cạnh đó, cách nhìn tiêu cực về người phụ nữ trong xã hội xưa còn được thể hiện trong việc nếu như người phụ nữ và người nam giới có một đặc điểm nào đó giống nhau thì ngay lập tức ở nam giới sẽ biến thành sự tích cực còn với người phụ nữ được nhìn nhận là nét tiêu cực. Ví dụ, cùng là đặc điểm rộng miệng nhưng cách đánh giá lại khác nhau hoàn toàn:

                                                   Đàn ông rộng miệng thì sang

                                    Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà.

            Những hình ảnh được sử dụng trong ca dao, tục ngữ cũng luôn có sự phân biệt với hai giới. Nam bao giờ cũng được ví với những hình ảnh to lớn, còn phụ nữ thì đi kèm với những hình ảnh nhỏ bé, yếu đuối. Ví dụ như: Nam thực như hổ, nữ thực như miêu; người phụ nữ luôn là liễu yếu đào tơ, còn nam giới thì đại trượng phu, ăn to nói lớn.

           3.4 Hình ảnh so sánh và tên gọi thể hiện sự KTGT

           Nho giáo xâm nhập vào Việt Nam mang theo tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam trong suốt bao năm qua. Với quan niệm “nam nội nữ ngoại”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” nên người phụ nữ trong xã hội xưa trở nên hết sức rẻ rúng. Ý thức được những điều này nên họ thường ví thân mình với những sự vật, vật dụng hết sức tầm thường trong khi đó người đàn ông thì được ví với những sự vật hết sức cao sang. Và ca dao đã phản ánh rất rõ nét về điều đó:

                                                -Thân anh như cái hoa sen  

                                                Thân em như cái bèo hèn trong ao.

                                                -Thân anh như cái tàn vàng

                                                Thân em như cái chiếu rách nhà hàng bỏ quên.

Những hình ảnh đối lập giữa cái cao sang với cái thấp hèn trong câu ca dao: "cái hoa sen" với "cái bèo hèn" và "cái tán vàng" với “cái chiếu rách” đã bộc lộ thái độ kì thị nữ giới trong xã hội xưa.

Với quan niệm “thuyền theo lái, gái theo chồng”, nữ giới sau khi đi lấy chồng, mất luôn tên gọi của mình và dùng chính tên gọi là chức danh của chồng để gọi cho tên của mình. Ví dụ:

                                                Trong làng bà Tú, bà Cai

                                                Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng

           Trong trường hợp này thì bà Tú, bà Cai được hiểu theo nghĩa là vợ của ông Tú, ông Cai.

3.5 Cách thức xưng hô và sự KTGT

            Định kiến nam tôn nữ ti đã được người xưa khái quát lên thành một phương châm ứng xử trong xưng hô giữa nam giới và nữ giới:                   

                                    Đã sinh ra phận đàn bà

                                    Hơn ba, bảy tuổi vẫn là đàn em.

 Điều đó phản ánh sự bất bình đẳng khá rõ trong xưng hô giữa những người khác giới.

 Và ngày nay nguyên tắc xưng hô đó vẫn tồn tại trong xưng hô vợ chồng.

3.6 Quan niệm trọng nam khinh nữ trong xã hội

Văn hóa truyền thống của người Việt vốn trọng tính nữ, đề cao phụ nữ trong việc giáo dục con cái, gánh vác các công việc gia đình.

Sự xâm nhập của các tôn giáo lớn như Nho giáo, Thiên chúa giáo và nhất là Hồi giáo vốn coi thường phụ nữ. Chế độ phong kiến Việt Nam lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng để thống trị xã hội cho nên quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã trở thành nhận thức tư tưởng của xã hội đương thời. Đây có lẽ là nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ KTGT trong xã hội xưa, được biểu hiện qua các tín hiệu ngôn từ.

4. Kết luận  

           Nói KTGT trong ngôn ngữ thường chúng ta hiểu đó là sự KTGT trong ngôn ngữ đối với nữ giới. Tìm hiểu những tín hiệu ngôn từ biểu hiện sự kì thị giới tính trong tiếng Việt có lẽ dễ tim thấy rõ nhất trong ca dao, tục ngữ tiếng Việt.

 Ca dao, tục ngữ Việt Nam biểu hiện rất rõ sự KTGT ở rất nhiều khía cạnh: nam giới luôn gắn với tính chủ động, nữ giới gắn với tính thụ động, lệ thuộc; nam giới gắn với tài năng và những việc làm cao cả, nữ giới gắn với những việc là tầm thường; nữ giới lệ thuộc vào nam giới; lệ thuộc vào danh hiệu của người chồng; nam giới có quyền sở hữu nữ giới v.v..và những cách nói rập khuôn coi thường nữ giới đang tồn tại trong tư duy của người Việt. Tất cả những biểu hiện về sự KTGT trong ngôn ngữ có nhiều nguyên nhân dẫn tới nhưng ở Việt Nam, sự kì thị đó có nguyên nhân chính yếu bắt nguồn từ tư tưởng của Nho giáo.

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đang có chủ trương, chính sách về bình đẳng giới. Những biểu hiện KTGT trong ngôn ngữ dần dần sẽ phai mờ đi trong nhận thức của mỗi người khi mà nam giới và nữ giới xác lập được sự bình đẳng trong đời sống gia đình và xã hội. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Tiến Dũng (2007), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính, NXB Giáo dục.

2. Vũ Tiến Dũng (2002), “Tìm hiểu một vài biểu thức tình thái gắn với tính lịch sự của nữ giới trong giao tiếp”, Ngôn ngữ (số 3) tr.59-66.

3. Trần Xuân Điệp (2004), Sự kì thì giới tính trong ngôn ngữ, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

4. Vũ Thị Thanh Hương (1999), “ Giới tính và lịch sự”, Ngôn ngữ, (số 8) tr.17-30.

5. Lương văn Hy (2000), “ Ngôn từ và nhóm xã hội: Dẫn nhập những vân đề cơ bản và những trường phái lí thuyết chính”, Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 9 - 38.

6. Nguyễn Văn Khang (2000), Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học Xã hội.

7. Nguyễn Văn Khang (1996), “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ”

, Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nguyễn Văn Khang (chủ

 biên), tr.176-186, Hà Nội, NXB Văn hóa Thông tin.

8. Vũ Ngọc Phan (1994), Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã hội

9. Hoàng Phê (chủ biên)(1998), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội.