KHÉO LÉO, KHIÊM NHƯỜNG - CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT BIỂU HIỆN QUA CA DAO, TỤC NGŨ, THÀNH NGŨ

KHÉO LÉO, KHIÊM NHƯỜNG - CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT BIỂU HIỆN QUA CA DAO, TỤC NGŨ, THÀNH NGŨ

                                                                                              TS. Vũ Tiến Dũng

                                                                                         Khoa Tiểu học Mầm non

            Tóm tắt: Việc thừa nhận phép lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt là một thực tế hiển nhiên nhưng cách thức tiếp cận về lịch sự trong tiếng Việt lại không hoàn toàn giống nhau. Lịch sự trong tiếng Việt hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận là sự dung hợp giữa lịch sự chuẩn mực và lịch sự chiến lược. Khéo léo, khiêm nhường thuộc về lịch sự chiến lược trong giao tiếp. Bài viết đã tìm thấy các chiến lược lịch sự đó được biểu hiện khá rõ thành các phương châm ứng xử trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ.

            Từ khóa: Lịch sự, chiến lược lịch sự, khéo léo, khiêm nhường

1. Đặt vấn đề

            Hiểu một cách giản dị, phép lịch sự là một biểu hiện của quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hoà, các cá nhân tham dự tương tác cảm thấy dễ chịu, thoải mái, góp phần đưa cuộc thoại đến thành công.

            Trong nghiên cứu về lịch sự hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba khuynh hướng khác biệt nhau, khá rõ nét. Một số nhà nghiên cứu về lịch sự Âu - Mĩ căn cứ vào các tài liệu văn hoá phương Tây cho rằng lịch sự có tính chiến lược hay còn gọi là lịch sự chiến lược. Đó là những cách ứng xử ngôn ngữ khéo léo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt, làm gia tăng sự hài lòng của người đối thoại để nâng cao hiệu quả giao tiếp. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu về lịch sự bắt nguồn từ các cứ liệu văn hoá phương Đông lại cho rằng lịch sự phải gắn với những giá trị thuộc về chuẩn mực giao tiếp của cộng đồng xã hội hơn là những ý muốn về sự tự do lựa chọn của cá nhân trong giao tiếp. Đó là lịch sự chuẩn mực (hay có nhà nghiên cứu gọi là lịch sự cộng đồng). Lịch sự chuẩn mực là hành động ứng xử ngôn ngữ phù hợp với chuẩn mực cộng đồng nhằm mục đích tôn trọng các giá trị xã hội của người nghe và cũng chính là của người nói. Khuynh hướng thứ ba cho rằng lịch sự như là sự tiếp cận tổng hợp quan niệm lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực.

Lịch sự trong tiếng Việt trong một chừng mực cụ thể đã được đề cập đến với những mức độ khác nhau qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi tiên phong trong lĩnh vực này như Đỗ Hữu Châu, Vũ Tiến Dũng, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm...

Xu hướng chung nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt là tiếp thu lí thuyết về lịch sự trong ngôn ngữ học hiện đại và đưa vào khảo sát, phân tích thực tiễn sử dụng trong tiếng Việt hiện nay. Một xu hướng nghiên cứu như vậy là hoàn toàn thoả đáng và cần được khích lệ, nó tránh được sự mò mẫm không phương hướng, hạn chế hiệu quả nghiên cứu. Tuy nhiên, lịch sự là một vấn đề gắn liền với từng xã hội cụ thể cho nên việc tìm kiếm những phương châm, quy tắc về lịch sự có nguồn gốc trong những lí thuyết chung hơn là về những cách xử thế cụ thể sẽ giúp chúng ta nhận ra những biến đổi tất yếu có tính quy luật của xã hội qua những giai đoạn lịch sử trong lĩnh vực giao tiếp bằng ngôn ngữ. Vì lẽ, lịch sự trong ngôn ngữ gắn liền với vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, mà phạm trù chuẩn hoá ngôn ngữ là một phạm trù có tính chất lịch sử, biến động theo thời gian cho nên việc ứng xử lịch sự trong một xã hội cụ thể cũng luôn biến đổi theo thời gian là một hệ quả tất yếu.

Bài viết này không phải là tìm kiếm những phương châm, quy tắc ứng xử lịch sự hợp thời, mà chỉ tìm những cơ sở phần nào tin cậy để xem xét vấn đề lịch sự trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt. Theo cách nhìn nhận vừa nêu, phương châm ứng xử khéo léo, khiêm nhường thuộc về chiến lược lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt, sẽ được xem xét qua những dấu vết được biểu hiện trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ của người xưa để lại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Hai xu hướng nghiên cứu cụ thể về lịch sự trong tiếng Việt

Việc nghiên cứu lịch sự trong tiếng Việt có hai xu hướng khá rõ: một là, bàn đến lịch sự trong tiếng Việt nhân dịp đưa lí thuyết lịch sự vào Việt Nam; hai là, trên cái nền của lí thuyết lịch sự chung, xem xét vấn đề lịch sự trong tiếng Việt một cách ít nhiều có tính chất chuyên môn.

a. Một số các nhà nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt dựa trên cứ liệu của văn hóa Việt Nam đều khẳng định lịch sự trong tiếng Việt thuộc bình diện chuẩn mực xã hội, nghĩa là nó gắn với định ước của xã hội. Người đầu tiên nghiên cứu về lịch sự phải được nhắc đến là Nguyễn Đình Hoà (1956). Trong cuốn Các mô hình ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của ứng xử lễ độ, lần đầu tiên Nguyễn Đình Hoà đã đề cập đến mối tương liên giữa thể diện và ứng xử trong tiếng Việt, trong đó thể diện được hiểu như là sự tự hào về những giá trị xã hội mà mình có được (Dẫn theo [2,tr.46]). 

Trần Ngọc Thêm (1996) giải thuyết rằng trong tiếng Việt, lịch sự gắn với nghi thức lời nói, nghĩa là lịch sự gắn với chuẩn mực xã hội mà ít gắn với chiến lược cá nhân trong tương tác. Tác giả đã đưa ra những nhận xét có vẻ thường tình nhưng lại khá thú vị đối với việc so sánh  nền văn hoá này với nền văn hoá khác. Trong tiếng Việt, nghi thức lời nói trong lĩnh vực các cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Chẳng hạn, người Việt Nam không có một từ xin lỗi, cảm ơn khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây. Người Việt Nam có nhiều cách cảm ơn, nhiều cách xin lỗi khá phong phú trong những ngữ huống giao tiếp khác nhau [7,tr.315].

 Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong cuốn Dụng học Việt ngữ khẳng định lịch sự như một chuẩn mực xã hội, và tác giả viết: "Các nhà văn hoá thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong hành vi văn hoá" [3, tr. 100]. Tác giả cho rằng chuẩn mực xã hội trong giao tiếp "không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện ở giọng, ở điệu" [3, tr.100]. Cùng với việc khẳng định lịch sự là chuẩn mực xã hội, tác giả cũng xác nhận rằng “... trong giao tiếp còn một kiểu lịch sự nữa được thực hiện. Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face)” [3, tr. 104], và thể diện theo hướng phân tích của tác giả, thì về thực chất là lịch sự chiến lược theo tư tưởng của Brown và Levinson. Lịch sự được tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm là những “nguyên tắc chung trong tương tác xã hội” [3, tr. 102]. Những nguyên tắc này có thể bao gồm “sự tế nhị, sự khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác” [3, tr. 102]. Những lời nói, câu thơ, ca dao, tục ngữ.. của người Việt là những ví dụ được đưa ra để minh chứng cho nguyên tắc lịch sự mà tác giả đã bênh vực. Trong những nguyên tắc đó, nguyên tắc nhún nhường và khiêm tốn không những thích hợp với người Việt mà còn thích hợp với nhiều dân tộc khác, tức là có tính phổ quát đối với nhiều dân tộc.

b. Đỗ Hữu Châu (2001) khi giới thiệu các lí thuyết lịch sự của Lakoff, của Leech, của Brown và Levinson đã đưa ra một số nhận xét gắn với lịch sự trong tiếng Việt dưới góc nhìn văn hoá rất đáng chú ý. Tác giả cho rằng các siêu chiến lược và các chiến lược, các quy tắc lịch sự của Lakoff, Leech, Brown và Levinson không phải đều đúng cho mọi dân tộc. Lịch sự trước hết là vấn đề văn hoá, là mang tính đặc thù của từng nền văn hoá. Xã hội nào cũng phải lịch sự, có điều cái gì là lịch sự, đến mức độ nào là lịch sự, biểu hiện nào là lịch sự lại bị quy định bởi riêng từng nền văn hoá một [1]. 

c. Vũ Thị Thanh Hương là một trong những người quan tâm nhiều nhất đến lịch sự trong giao tiếp bằng tiếng Việt. Qua công trình nghiên cứu với nhan đề Politeness in modern Vietnamese: A sociolinguistic study of a Hanoi speech community (Lịch sự trong tiếng Việt hiện đại: Một nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở một cộng đồng ngôn ngữ của Hà Nội), tác giả đã phác hoạ một mô hình lịch sự trong tiếng Việt bao gồm các nội dung: lễ phép, tế nhị, đúng mực, khéo léo (Dẫn theo [4, tr. 148], trong đó lễ phép được hiểu là một kiểu lịch sự của người bề dưới đối với người bề trên.

Kết quả phân tích của tác giả cho thấy rằng xét trong quan hệ với lịch sự, thì lễ phép và đúng mực nằm ở cùng một bình diện, còn khéo léo và tế nhị nằm ở một bình diện khác, mặc dù ranh giới giữa hai bình diện này không rành mạch. Điều này cho phép khẳng định “lịch sự bao gồm hai bình diện cơ bản là lịch sự lễ độ hay lịch sự tối thiểu (có nội dung chính là lễ phép, đúng mực) và lịch sự chiến lược hay lịch sự xã giao (khéo léo, tế nhị) là có cơ sở" [4, tr. 147]. Theo tác giả, các thể hiện của lịch sự là đúng mực, lễ phép, khéo léo, tế nhị có mối quan hệ đan xen, bao hàm nhau, nhưng không đồng nhất, vừa bao hàm vừa khác biệt, theo kiểu những tập hợp có bộ phận giao nhau. Mối tương quan giữa các yếu tố thể hiện khái niệm lịch sự trong tiếng Việt được tác giả biểu diễn như ở hình dưới đây:

 

 

  Mô hình kiểu quan hệ giữa các yếu tố của phép lịch sự  trong tiếng Việt (Nguồn: Vũ Thị Thanh Hương, 2000. tr. 148)

d. Xác định mô hình lịch sự trong tiếng Việt qua cứ liệu văn hóa, văn học dân gian Việt Nam, Vũ Tiến Dũng đã đưa ra bốn tiêu chí của phép lịch sự trong tiếng Việt: Lễ phép, đúng mực (thuộc bình diện lịch sự chiến lược) và khiêm nhường,  khéo léo (tế nhị) (thuộc bình diện lịch sự chiến lược). Và lịch sự trong tiếng Việt là sự dung hợp của hai bình diện: lịch sự chuẩn mực và lịch sự chiến lược [2].

Một số luận văn thạc sĩ giai đoạn gần đây thường vận dụng lí thuyết lịch sự của các nhà nghiên cứu Âu - Mĩ và các kết quả nghiên cứu về mô hình lịch sự trong tiếng Việt để vận dụng vào việc phân tích tính lịch sự của hành động nói, các sự kiện nói trong giao tiếp tiếng Việt.

2.2. Các biểu hiện của chiến lược lịch sự qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ

2.2.1. Ngữ liệu và phương pháp

Có một điều kì lạ chúng tôi nhận thấy qua nguồn ngữ liệu văn học dân gian Việt Nam mà biểu hiện cụ thể trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ cũng chứa đựng không ít những biểu hiện về phép lịch sự có thể đối chiếu với bộ thuật ngữ của lí thuyết lịch sự hiện đại. Bắt đầu từ nhận thức này, chúng tôi thử xác định những biểu hiện cụ thể của lịch sự trong tiếng Việt. Đó là con đường tìm hiểu qua những tư liệu dân gian qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về các quan niệm và các bài học truyền thống về cách xử thế, nói năng của người Việt liên quan đến phép lịch sự. Đây là nguồn ngữ liệu rất đáng tin cậy về mặt khoa học, bởi lẽ văn hóa ứng xử của một dân tộc là một trong những phương tiện quan trọng lưu giữ được những giá trị thuộc về tinh hoa văn hoá dân tộc; đồng thời nó cũng là phương tiện quan trọng biểu hiện và góp phần thúc đẩy văn hoá dân tộc phát triển. Trong suốt chiều dài lịch sử với những biến động, biến cố cực kì phức tạp, tiếng Việt vẫn tồn tại, phát triển, góp phần xây dựng và phản ánh những tư tưởng, tình cảm, lẽ sống trong sáng, lành mạnh và phong phú của con người Việt Nam. Văn hoá giao tiếp - một bộ phận cấu thành của văn hoá dân tộc - chứa đựng những phương châm ứng xử tinh tế, lịch lãm của con người Việt Nam. Trong số những câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ trong kho tàng văn hoá dân gian của người Việt có một bộ phận đáng kể nói về lời ăn, tiếng nói, về cách ứng xử đã góp phần tạo nên dáng vẻ riêng của văn hoá giao tiếp Việt Nam mà đến ngày nay vẫn còn những giá trị hiện hữu, hợp thời. Ngữ liệu thu thập được của chúng tôi là những câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ nói về văn hoá ứng xử của người Việt thường gặp trong giao tiếp thường ngày.

Về mặt phương pháp, chúng tôi cho rằng ca dao, tục ngữ, thành ngữ chứa đựng những tri thức, những nếp sống không phải là của muôn đời, nên việc nghiên cứu chúng trong lĩnh vực này chỉ nhằm góp phần làm sáng tỏ, khẳng định những gì có tính chất truyền thống tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt mà đến ngày nay vẫn còn giá trị, nhất là trong thời kì mở cửa, hội nhập hiện nay. Một số lời răn dạy về các phương châm xử thế xưa, chẳng hạn như chém cha không bằng pha tiếng, có lẽ không thích hợp với bối cảnh ngày nay, sẽ không được tính đến, thu thập làm ngữ liệu phân tích tính lịch sự trong tiếng Việt.

Để phục vụ thuận lợi cho nghiên cứu, chúng tôi sử dụng bộ khái niệm công cụ hiện đại của lí thuyết lịch sự trong quá trình xem xét các hiện tượng hữu quan, vì trên thực tế những hiện tượng về lịch sự xưa kia mà đến ngày nay vẫn còn hợp thời, trong chừng mực nhất định, đều có thể khuôn được vào các khái niệm ấy.

2.2.2.  Các biểu hiện của chiến lược lịch sự

2.2.2.1. Khéo léo (và tế nhị)

Khi nói về nghĩa của từ khéo ở phương diện ứng xử, Từ điển tiếng Việt giải thích: "Biết có những cử chỉ, hành động, lời lẽ thích hợp làm người khác vừa lòng để đạt được kết quả như mong muốn trong quan hệ đối xử."; còn từ khéo léo được giải thích: "Khéo trong cách làm và cách đối xử." [6, tr.495]. Như vậy, khéo léo trong giao tiếp tức là người nói có lời lẽ thích hợp làm người khác vừa lòng để đạt được kết quả như mong muốn trong quan hệ đối xử. Cũng nói về quan hệ ứng xử, từ tế nhị được giải thích: "Tỏ ra khéo kéo, nhã nhặn trong quan hệ đối xử biết chú ý đến cả những điểm rất nhỏ thường dễ bị bỏ qua." [6, tr.890].

Từ cách hiểu sơ bộ như vậy, chúng ta nhận thấy người Việt Nam xưa cũng đã quan tâm đến khéo léo (và có cả tế nhị) trong giao tiếp, ứng xử, tức là quan tâm đến cách thức nói năng đạt đến tính lịch sự:

                             Lời nói chẳng mất tiền mua

                     Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau. [5]

Giao tiếp, ứng xử bằng ngôn từ trong xã hội là những sự kiện, những hiện tượng rất đa dạng và phong phú, thế mà chỉ với mười bốn tiếng trong một câu lục bát, ông cha ta đã có thể gói gọn các cách thức nói năng để đạt đến tính lịch sự trong các cuộc giao tiếp đó. Lời dạy trước hết nói rằng chúng ta đang có trong tay một thứ công cụ cực kì quý báu và đầy hiêụ lực mà không phải tốn kém gì, chỉ cần biết sử dụng nó thích hợp trong từng ngữ huống giao tiếp, đó là lời nói. Việc sử dụng lời nói để đạt đến tính lịch sự không khó khăn đến mức không thể thực hiện được, tuy nhiên nó cũng không dễ dàng như “trở một bàn tay”! Đó là nội hàm cô đúc và vô giá của hai tiếng "liệu lời" trong “liệu lời mà nói”! Với lời khuyên diễn đạt bằng hai tiếng “liệu lời”, người xưa đã để cho chúng ta một khoảng tự do lựa chọn không giới hạn, nhưng rồi lại khép lại bằng một giới hạn không thể, không được phép vượt qua, đó là “cho vừa lòng nhau”! Mọi sự dễ dàng đều ở đó, mà mọi sự khó khăn cũng đều ở đó! Đúng là như vậy, cái sự “vừa lòng nhau” là giới hạn cho “sự liệu lời”, nhưng tự nó lại là một khoảng tự do có giới hạn mới: chọn như thế nào là tự do, nhưng phải đúng và có hiệu lực cao nhất đối với “nhau”, tức là đối với người cùng giao tiếp thuộc ngôi thứ hai, hoặc đối với người được nói đến thuộc ngôi thứ ba, bởi vì “tai vách mạch rừng”. Như vậy, chỉ có tám tiếng nôm na dễ hiểu “Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau” mà thể hiện được chiến lược tổng quát và chiến lược cụ thể, và không thể cụ thể hơn được, bởi giao tiếp, như chúng ta đã biết là “thiên hình vạn trạng”. Chính do cái nội hàm quá phong phú của nó mà ai cũng hiểu câu tục ngữ này, nhưng không phải ai cũng thành công trong việc sử dụng nó. Như vậy, khéo léo trong giao tiếp được chỉ ra không phải chỉ làm người tiếp ngôn (thường là ngôi hai) "vừa lòng" mà sự khéo léo của người nói còn phải biết làm "vừa lòng" cả chính người nói trong tương tác xã hội.

Lời khuyên hãy khéo léo, hãy tế nhị trong giao tiếp ai cũng biết là: người xưa vừa quan tâm đến chuẩn mực của phép lịch sự, lại vừa quan tâm đến chiến lược để đạt được chuẩn mực đó, mặc dù người xưa chưa có được trong tay cái gọi là “lí thuyết lịch sự” như bây giờ.

Khéo léo trong quan niệm lịch sự của người Việt trong ca dao chắc hẳn cũng có thể giải thích được theo quan niệm về khéo léo trong lí thuyết lịch sự hiện đại của Leech "tăng lợi cho người nghe, giảm thiệt cho người nghe" [2]. Tuy nhiên, cách diễn đạt trong ca dao chưa được rõ rành đến như thế, người ta chỉ mới nói được một cách rất chung là “làm vừa lòng người nghe và kể cả người nói bằng ngôn từ được chọn lựa”, có thể nói thêm là cùng với thái độ kèm theo thích hợp. Lời nói được lựa chọn kĩ càng, phù hợp với tình huống giao tiếp, thì có cơ hội trở thành của quý:

                             Lời nói gói vàng. [2]

Quả vậy, với xã hội phong kiến Việt Nam thì “Một miếng thịt làng bằng một sàng thịt chợ”, thế nhưng có một lời nói khéo, hợp tình hợp cảnh, thì xôi thịt cũng có thể không còn cái giá trị ấy. Người ta trách nhau là trách ở chỗ không có một lời thích đáng (cũng có thể hiểu là khéo léo, tế nhị):

              Chẳng được miếng thịt miếng xôi,

                  Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng. [5]

Có lẽ khó giải thích được cụ thể nói như thế nào là nói khéo theo kiểu Việt Nam, đó là một ý niệm mà người bình dân cảm nhận được nhiều hơn là một thuật ngữ khoa học có thể định nghĩa như trong lí thuyết lịch sự vừa được nhắc lại trên đây. Mà nếu có phải định nghĩa thì người bình dân cũng chỉ định nghĩa nó theo lối cảm nhận rằng: nói khéo là không làm mất lòng người nghe mà cũng phải biết giữ cho mình đẹp mặt. Và một phần cách cảm nhận ấy đã được diễn đạt một cách tài tình trong câu ca:

             Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

               Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. [5]

 “Tiếng dịu dàng” ở đây ai cũng biết chính là “nói khéo”, mà “nói khéo” định nghĩa là “tiếng dịu dàng” thì cũng như là không định nghĩa. Vậy, hãy tìm đến một định nghĩa khác, một lời giải thích giản dị và vẫn không kém phần mơ hồ, thế nhưng có rõ ràng hơn:

                          Nói ngọt lọt đến xương. [2]

Hay:

                          Nói ngọt như mía lùi. [2]

            Còn ai sẽ là người được cho nói khéo nhất ? Đó  chắc hẳn là người:

                                    Nói con kiến trong lỗ cũng phải bò ra. [2]

Nói năng khéo đến thế thì thật là tài tình, thật là “tận cùng sơn thuỷ”! Tuy người xưa không biết rõ nói khéo là thế nào, nhưng vẫn có những lời dặn, lời khuyên đừng vi phạm phương châm khéo léo trong nói năng:

                          Kim vàng ai nỡ uốn câu

                 Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời. [5]

Nói năng khéo léo cũng có nghĩa là “không nặng lời”, đó mới là một tiêu chuẩn đánh giá "người khôn" hay "không khôn" trong ứng xử văn hóa và. ứng xử như vậy mà thành công thì đúng là đạt đến "tận cùng" của sự khôn khéo.

  Người không biết nói khéo được “tặng” một câu:

                       Nói như dùi đục chấm mắm cáy. [2]

Câu tục ngữ này không dễ hiểu, nhưng lại rất dễ cảm nhận, để có thể tránh được cách nói quá vụng về, thô thiển.

Theo những lời đã dẫn trên, xã hội Việt Nam xưa vốn đã có khá nhiều cách ứng xử khéo léo, tinh tế. Và hình như cái trục, cái lõi của sự giữ gìn lời nói cho lịch sự theo phương châm khéo léo là trọng tình nghĩa hơn lí trí, dùng cái tình để thu phục cái lí, hay ít ra cũng phải “thấu tình đạt lí”. Với phương châm coi trọng chữ “tình”, tục ngữ nhắc nhở người Việt rằng:

                Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình. [7]

Như có thể thấy qua các lời trích dẫn, khéo léo và tế nhị không được phân biệt, vả lại cũng không thể phân biệt một cách rạch ròi trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Vì đây là tài sản trí tuệ của đông đảo nhân dân, không thuộc vào cái vốn tri thức bác học.

Với những cách diễn đạt của người xưa, hiện đại hóa lên một chút thì khéo léo (và tế nhị) được hiểu là sự toan tính của người nói hướng tới đích giữ gìn các mối quan hệ liên nhân của người tiếp ngôn và người nói nhằm hướng tới sự thành công của mỗi cuộc thoại như mong đợi.

2.2.2.2. Khiêm nhường

Từ điển tiếng Việt định nghĩa khiêm nhường là "Khiêm tốn trong quan hệ đối xử, không giành cái hay cho mình mà sẵn sàng nhường cái hay cho người khác" [6, tr.498]. Khiêm nhường còn được hiểu bao hàm khiêm tốn và nhường nhịn. Theo cách hiểu này thì "Khiêm là thái độ ứng xử không đánh giá mình cao, thật tâm coi mình còn non kém, sẵn lòng học hỏi; nhường là không giành cái hay, cái lợi về mình mà sẵn sàng dành nó cho người khác" [2, tr.59]. Theo cách hiểu này, khiêm nhường rất gần với các phương châm của lí thuyết lịch sự do Leech nêu ra như phương châm khéo léo (Giảm đến tối thiểu những điều thiệt và tăng tối đa những điều lợi cho người.), phương châm hào hiệp (Giảm đến tối thiểu những điều lợi và tăng tối đa những điều thiệt cho ta.) và phương châm khiêm tốn (Giảm tối thiểu việc tự khen ta, tăng tối đa những điều tự chê ta.) [2, tr.11].

Khiêm nhường trong giao tiếp là cách thức ứng xử luôn tìm cách giữ được hòa khí, tránh đi sự xung đột, đối đầu trong các cuộc thoại nhằm giữ gìn các mối quan hệ liên nhân. Khiêm nhường là một trong những cơ sở để tạo nên sự hòa thuận. Đây chính là một biểu hiện của phương châm giao tiếp "hiệp đồng" trong văn hóa ứng xử Việt Nam. Theo phương châm ứng xử đó, khi anh em, bạn bè tranh luận với nhau, người xưa đã đưa ra lời khuyên rất đích đáng để giữ hòa khí:

               Một câu nhịn là chín câu lành. [5]  

Cách ứng xử khiêm nhường như vậy diễn ra trong mọi mối quan hệ (trong gia đình và ngoài xã hội). Chẳng hạn, vợ chồng ăn ở mãi với nhau cũng có lúc "xô bát xô đũa" nên những lời răn dạy về tính nhường nhịn không phải là ít trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam. Và trong một xã hội mà tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn chưa bị xóa bỏ, người chồng thường hay lấn át người vợ thì lời khuyên thường dành cho nữ giới cần phải biết nhường nhịn chồng để giữ mái ấm gia đình:

                                    Chồng giận thì vợ bớt lời

                         Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê. [5]

Và một lời răn của người xưa dành cho cả người vợ, người chồng trong ứng xử luôn phải biết sẻ chia, không toan tính, mới giữ được nghĩa "trăm năm vợ chồng":

                             Vợ chồng là nghĩa ở đời

                    Ai ơi chớ nói những lời thiệt hơn. [5]

Đức tính khiêm nhường thể hiện rõ ở sự lễ phép với người vai trên, đúng mực đối với người ngang vai và với những người vai dưới. Tự trong ứng xử, tài đức của họ sẽ bộc lộ và mọi người sẽ nhận ra theo kiểu:

                     Hữu xạ tự nhiên hương. [7]

Khiêm nhường trong giao tiếp của người Việt theo cách hiểu như trên, thật ra cũng rất gần gũi với nguyên tắc khiêm tốn trong hội thoại của các nhà nghiên cứu phương Tây khởi xướng và bênh vực. Và như vậy, khiêm nhường trong tương tác thuộc về bình diện lịch sự chiến lược theo lí thuyết lịch sự hiện đại.

Lối giao tiếp khéo léo, ưa tế nhị theo Trần Ngọc Thêm là sản phẩm của lối sống trọng tìnhlối tư duy coi trọng các mối quan hệ [7, tr.135], cũng tức là khéo léo (cũng như khiêm nhường) là những cách thức ứng xử có nguồn gốc ở lối sống ấy và lối tư duy ấy. Như vậy, khéo léo (và tế nhị ), khiêm nhường là những chiến lược lịch sự cụ thể để hiện thực hoá lối sống và lối tư duy ấy.

Cũng cần phải nói thêm rằng khéo léo (và tế nhị), khiêm nhường là những biểu hiện về chiến lược lịch sự trong văn hóa giao tiếp của người Việt nhưng nó chỉ đạt được lịch sự khi tham gia giao tiếp, mọi người phải chân thành. Bản thân mối quan hệ giữa lịch sự và chân thành là khá phức tạp, cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm mới có kết luận khoa học.

3. Kết luận

Việc xem xét tính lịch sự qua di tích trong văn hoá tinh thần dân gian sẽ góp phần khẳng định tính đúng đắn của lí thuyết lịch sự hiện đại, và góp phần chứng minh rằng dân tộc Việt Nam đã có một lối sống thực sự lịch sự từ lâu đời, xứng đáng với một dân tộc độc lập và có chủ quyền, cả ở phương diện đời sống tinh thần. Trong bối cảnh đất nước ta đang hội nhập một cách mạnh mẽ như hiện nay, việc tìm thấy những điểm tương đồng và những điểm dị biệt trong văn hóa giao tiếp của người Việt với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới sẽ giúp cho quá trình hội nhập có hiệu quả hơn mà vẫn giữ được bản sắc, tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Bài viết là một tiếng nói chỉ ra một số điểm tương đồng trong ứng xử lịch sự của người Việt so với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới. Đây là một vấn đề thú vị, hi vọng sẽ nhận được sự chỉ giáo của bạn dọc gần xa.

INGENUITY, HUMILITY -THE POLITE STRATEGY IN VIETNAMESE  COMMUNICATIONS THROUGH VIETNAMESE FOLK SONGS, PROVERBS AND IDIOMS

                                                                                                                      Dr. Vu Tien Dung  

             Abstract: The recognition of civility in communication in Vietnamese is an obvious fact, but approaching  the politeness in Vietnamese is not quite the same. Many researchers admit that the courtesy of Vietnamese is the  synthesis between polite and courteous strategy. Ingenuity and humility belong to the courteous strategy. The article found that polite strategies are expressed quite clearly the conduct in folk songs, proverbs, idioms.
             Keywords:  Politeness, courteous strategy, ingenuity, humility

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học, tập hai, Nxb Giáo dục.

2. Vũ Tiến Dũng (2007), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính, Nxb Giáo dục.

3. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Vũ Thị Thanh Hương (2000), "Lịch sự và phương thức biểu hiện tính lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt", Ngôn từ, giới và nhóm  xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.135 - 175.

5. Vũ Ngọc Phan (1994), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội.

6. Hoàng Phê (chủ biên cùng tập thể tác giả) (2000), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội - Việt Nam.

7. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.