THÁI ĐỘ COI TRỌNG PHỤ NỮ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT

THÁI ĐỘ COI TRỌNG PHỤ NỮ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT

                                                                                             TS. Vũ Tiến Dũng

1. Đặt vấn đề

            Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ học xã hội hiện nay là vấn đề giới tính trong ngôn ngữ. Việc nghiên cứu  ngôn ngữ và giới tính có hai hướng tiếp cận chính: ngôn ngữ của giới và quan niệm giới tính (sexism) trong ngôn ngữ. Hướng nghiên cứu ngôn ngữ của giới chuyên nghiên cứu sự khác biệt trong cách dùng một ngôn ngữ giữa nữ giới và nam giới. Hướng nghiên cứu quan niệm giới tính trong ngôn ngữ chỉ ra cách dùng các tên gọi nghề nghiệp, chức danh thường là những từ chỉ nam giới mặc dù đương sự là nữ giới, tức là không có một tên gọi dành cho nữ giới. Do đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng có tình trạng trọng nam khinh nữ, thiếu bình đẳng trong cách dùng một ngôn ngữ cụ thể. Kì thị giới tính (KTGT)  trong ngôn ngữ là một hiện tượng phổ quát trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội. Bài viết nhỏ này tìm hiểu theo một hướng tiếp cận khác, ít được giới nghiên cứu quan tâm, đó là truyền thống văn hoá ứng xử coi trọng phụ nữ của người Việt.

2. Về vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ

Thông thường, kì thị là sự phân biệt đối xử do thành kiến (thường nói về thái độ đối với các dân tộc). Một số nhà nghiên cứu cho rằng kì thị là sự coi khinh người này và coi trọng người kia về một mặt nào đó bởi thành kiến xã hội. Trong xã hội loài người, chúng ta nhận thấy đang tồn tại nhiều hình thức kì thị như: Kì thị tín ngưỡng, kì thị về sắc tộc, kì thị về tuổi tác, tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế hay tình trạng hôn nhân v.v.. Tất cả những hình thức kì thị đó đều được biểu đạt rất rõ trong ngôn ngữ. Chẳng hạn, với các cách nói như: “Mặt búng ra sữa” là biểu hiện sự kì thị về tuổi tác - coi thường tuổi trẻ hay: “Người dân tộc mà! Có biết gì đâu.” là thể hiện sự kì thị về dân tộc - coi thường sự hiểu biết của người dân tộc. Theo hướng hiểu này thì kì thị giới tính là sự phân biệt đối xử do thành kiến xã hội về giới tính trong ngôn ngữ.

Kì thị giới tính được hiểu cụ thể hơn là sự coi thường giới này và coi trọng giới kia. Một biểu hiện rất cụ thể của sự KTGT trong xã hội loài người là tư tưởng trọng nam khinh nữ. Như vậy, trong ngôn ngữ, KTGT là sự biểu đạt bằng ngôn ngữ qua hình thức rất dễ nhận thấy, đó là sự coi thường nữ giới - coi trọng nam giới. Một số nghiên cứu của chúng tôi trước đây đã chỉ ra rất rõ một số biểu hiện hiện kì thị nữ giới trong tiếng Việt như: Nữ giới thường gắn với tính thụ động – nam giới thường gắn với tính chủ động; nữ giới gắn với liên tưởng tiêu cực – nam giới gắn với liên tưởng tích cực; nữ giới gắn với sắc dục – nam giới gắn với tài năng và một số cách thức xưng hô có biểu hiện sự KTGT v.v.. Từ một số biểu hiện đó trong ngôn ngữ do ảnh hưởng hệ tư tưởng xã hội phong kiến trước đây đã hình thành nên quan niệm trọng nam khinh nữ trong xã hội Việt Nam mà đến bây giờ, Đảng, Nhà nước ta vẫn đang tiếp tục vận động nhân dân ta đấu tranh để loại bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ này ra khỏi đời sống xã hội.  

3. Thái độ coi trọng phụ nữ trong truyền thống ứng xử của người Việt

Do đặc điểm của văn hoá gốc nông nghiệp cho nên người Việt, xét về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, con người Việt Nam ưa tổ chức theo nguyên tắc trọng tình. Người Việt sống cố định và lâu dài với nhau nên phải tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình. Lối sống trọng tình cảm tất yếu tạo ra nhiều giá trị khác nhau, trong đó phải kể đến thái độ coi trọng phụ nữ.

Nhiều người Việt Nam thường không dễ gì chấp nhận ngay được cách nhìn về thái độ sống coi trọng phụ nữ trong truyền thống văn hoá ứng xử của người Việt. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lẽ, nền văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của văn hoá Trung Hoa, trong đó có tư tưởng "Nam tôn nữ ti" của Nho giáo đã ngự trị hàng nghìn năm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Nhiều người luôn cho rằng truyền thống ứng xử văn hoá của người Việt gắn với tư tưởng: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, thuyết Tam tòng, Tứ đức. Bản chất quan niệm này là của Nho giáo Trung Hoa, "nhập cảng" vào Việt Nam  nhưng không ít người tưởng rằng quan niệm đó vốn có ở Việt Nam từ ngàn xưa là hết sức sai lầm.

Trong truyền thống Việt Nam - văn hoá gốc nông nghiệp - sống định cư nên coi trọng ngôi nhà, cái bếp và hệ quả là coi trọng người phụ nữ. Người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong việc chăm lo đời sống và xây dựng hạnh phúc gia đình. Không mấy ai là người Việt không biết đến những câu tục ngữ sau:

                           Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp.

                            Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.

  Người phụ nữ được đề cao trong đời sống gia đình, và trong nhiều trường hợp có vai trò quan trọng hơn nam giới khi đưa ra các quyết định cụ thể:

                            Lệnh ông không bằng cồng bà.

 Bởi vì trong các mối quan hệ gia đình và xã hội, người vợ có vai trò cực kì quan trọng đối với người chồng:

                               Nhất vợ nhì trời.

 Và khi sinh con thì người Việt chuộng sinh con gái đầu lòng:

                        Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng.

  Phụ nữ Việt Nam là người có vai trò trách nhiệm cao trong quản lí kinh tế, tài chính gia đình và dân gian thường gọi là tay hòm chìa khoá. Đồng thời, họ có vai trò quan trọng, có tính quyết định đến việc giáo dục con cái trưởng thành:

                                    Phúc đức tại mẫu.

  GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm cho rằng vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ "cái" có ý nghĩa là "mẹ" (Con dại cái mang) được chuyển nghĩa thành "lớn", quan trọng, chủ yếu" như: Sông cái, đường cái, dũa cái, cột cái, trống cái, ngón tay cái, máy cái...(Dẫn theo cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1997).

  Sau này, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung Hoa - trọng nam khinh nữ - người dân đã phản ứng rất dữ dội với tư tưởng này, dữ dội tới mức cực đoan để muốn "lật ngược" ngay tư tưởng trọng nam khinh nữ đương thời:

                             Ba đồng một mớ đàn ông

                       Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha

                             Ba trăm một mụ đàn bà

                      Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi!

 Thái độ coi trọng phụ nữ của người Việt cũng dễ nhận thấy khi ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đều có các đền thờ các anh hùng liệt nữ như đền thờ Hai Bà Trưng, bà Triệu, đền thờ nữ tướng Lê Chân, đền thờ Thánh Thiên công chúa (một nữ tướng cuộc khởi Hai Bà Trưng),  nữ tướng Bùi Thị Xuân, đền thờ bà Chúa Kho, bà Liễu Hạnh...

4. Kết luận

            Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đang có những chủ trương, chính sách cụ thể về bình đẳng giới. Những biểu hiện KTGT (quá trọng nam hay quá trọng nữ) trong ngôn ngữ dần dần sẽ phai mờ, nhạt nhoà đi trong nhận thức của mỗi người khi mà nam, nữ (và nhất là nữ giới) thực sự xác lập được sự bình đẳng trong đóng góp để xây dựng đời sống gia đình và xã hội. Thái độ coi trọng phụ nữ trong truyền thống văn hoá ứng xử của người Việt sẽ là một mạch nguồn tươi trẻ mãi mãi thúc đẩy cuộc đấu tranh vận động bình đẳng giới của đất nước chúng ta gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trong tương lai.