XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG BẢO TOÀN KHỐI LƯỢNG CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA - ThS. Đoàn Anh Chung

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG BẢO TOÀN KHỐI LƯỢNG CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA

                                                      ThS. Đoàn Anh Chung

Khoa Tiểu học – Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc

 

Tóm tắt. Vấn đề giáo dục nhận thức, trí tuệ cho trẻ 5 – 6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, bởi đây là thời kì nền tảng cho việc hình thành các thao tác trí tuệ sau này. Trong các yếu tố hình thành nên thao tác trí tuệ thì bảo toàn là một yếu tố then chốt và là tiêu chí quan trọng quyết định sự xuất hiện thao tác trí tuệ ở trẻ. Trong nghiên cứu này chúng tôi hướng đến nghiên cứu khả năng bảo toàn khối lượng (KNBTKL) của trẻ 5 – 6 tuổi qua các trắc nghiệm cụ thể với hai cấp độ: trắc nghiệm quan sát và trắc nghiệm hành động, nhằm xác định mức độ, chiều hướng và vai trò của hành động đối với việc xuất hiện những thao tác trí tuệ. Bài viết tập trung giới thiệu và phân tích kết quả khảo sát thực trạng KNBTKL của trẻ 5 – 6 tuổi tại thành phố Sơn La; đồng thời phân tích kết quả khảo sát những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển KNBTKL ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.

Từ khóa: Khả năng bảo toàn khối lượng, chuẩn bị trí tuệ cho trẻ vào lớp 1.

 

1. Mở đầu

Bảo toàn có nghĩa là đối tượng hay tập hợp các đối tượng được thừa nhận không bị thay đổi về các yếu tố thành phần hay các thông số vật lý bất kỳ, mặc dù có sự biến đổi về hình thức hay vị trí bên ngoài của chúng. Bảo toàn khối lượng chính là khả năng duy trì cái bất biến về khối lượng của sự vật trong sự biến đổi của các hình ảnh tri giác về sự vật đó. KNBTKL có vai trò to lớn trong việc hình thành các thao tác trí tuệ ở trẻ như: bù trừ, cộng trừ, phản hồi, suy luận. Khi khả năng bảo toàn xuất hiện cho phép tư duy của trẻ không còn phụ thuộc vào hình ảnh mà nó tri giác được nữa mà nó mang tính khách quan hơn, nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách tương đối, tùy thuộc vào góc nhìn.

Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhà tâm lí học J.Piaget đã tiến hành hàng loạt thực nghiệm và đã phát hiện chỉ đến 8 – 9 tuổi trẻ mới có khả năng bảo toàn khối lượng, còn 5 – 6 tuổi trẻ chưa có khả năng này và do vậy chúng chưa có thao tác trí tuệ. Trong cuốn Tâm lý học trí khôn, J.Piaget cũng đã mô tả rất rõ quá trình hình thành và phát triển KNBTKL ở trẻ. Tuy nhiên, mức độ bảo toàn như thế nào lại chưa được ông đề cập đến. Một vấn đề nữa đặt ra là trong xã hội hiện đại, gia tốc phát triển của trẻ nhanh hơn, các giai đoạn lứa tuổi đến sớm hơn thì khả năng bảo toàn ở trẻ có xuất hiện sớm hơn? Xuất hiện và phát triển theo chiều hướng, mức độ thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển đó? Vì vậy, việc xác định mức độ bảo toàn khối lượng của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết để có thể giúp nhà giáo dục  chuẩn bị tốt về mặt trí tuệ cho trẻ trước khi vào lớp 1.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu KNBTKL của trẻ ở hai trường mầm non Chiềng Lề và Hua La, thành phố Sơn La. Nghiên cứu được thực hiện trên 83 trẻ 5 – 6 tuổi. Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp trắc nghiệm. Chúng tôi đã thực hiện 160 trắc nghiệm ở hai mức độ: trắc nghiệm quan sát và trắc nghiệm hành động. Qúa trình tiến hành trắc nghiệm trải qua nhiều công đoạn như: chọn mẫu, khảo sát sự phát triển của nghiệm thể trước khi tiến hành trắc nghiệm (các tiêu chí như: sử dụng lời nói bày tỏ ý kiến, biểu tượng về số và đo, khả năng suy luận, vận động khéo léo), tiến hành trắc nghiệm, phân loại và tổng hợp. Vì vậy, kết quả điều tra thực trạng mang tính khách quan.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1.Thực trạng mức độ bảo toàn khối lượng của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại thành phố Sơn La

2.1.1. Xây dựng thang đo mức độ bảo toàn khối lượng và tiến hành trắc nghiệm.

Chúng tôi tiến hành xác định mức độ bảo toàn khối lượng của trẻ qua bài tập trắc nghiệm trên 83 trẻ mẫu giáo ở hai trường mầm non, Trường Mầm non Chiềng Lề (nội thành thành phố) và Trường Mầm non Hua La (ngoại thành) - Thành phố Sơn La. Trắc nghiệm được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 4/2012, bao gồm 43 nam và 40 nữ. Để xác định được mức độ bảo toàn khối lượng ở trẻ, đồng thời xác định yếu tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hình thành khả năng bảo toàn khối lượng ở trẻ chúng tôi đã tiến hành trắc nghiệm về khối lượng nước với những chiếc cốc có hình dạng khác nhau với hai mức độ: mức độ quan sát và mức độ hành động. Trắc nghiệm được tiến hành như sau:

Trắc nghiệm quan sát

Trong trắc nghiệm này, nghiệm viên thực hiện bài tập trắc nghiệm và trẻ quan sát trả lời khi nghiệm viên hỏi. Mục đích của loại trắc nghiệm này nhằm phát hiện và xác định mức độ bảo toàn khối lượng ở trẻ 5 – 6 tuổi.

 Cách tiến hành: Nghiệm viên ngồi đối diện trẻ. Sau đó, nghiệm viên rót nước từ chai vào cốc 1 và cốc 2 (cốc 1 và 2 giống nhau về kích thước, hình dạng, chiều cao và độ rộng) sao cho lượng nước ở hai cốc bằng nhau. Nghiệm viên hỏi để trẻ thừa nhận sự bằng nhau đó. Tiếp theo, nghiệm viên đổ nước ở cốc 2 vào cốc thứ 3 (hẹp và cao hơn hai chiếc cốc 1 và 2) rồi hỏi trẻ xem nước ở cốc 1 và 3 này có bằng nhau không? Cốc nào nhiều hơn? Tại sao?

Trắc nghiệm hành động

Trắc nghiệm hành động tức là trẻ trực tiếp làm bài tập trắc nghiệm dưới sự gợi

ý, hướng dẫn của nghiệm viên. Trắc nghiệm này nhằm mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của việc hành động tới khả năng bảo toàn khối lượng ở trẻ. Ở mức độ này, mẫu nghiệm thể chúng tôi chọn dựa trên kết quả của trắc nghiệm quan sát về KNBTKL. Sau khi tiến hành trắc nghiệm quan sát, chúng tôi mô tả và phân loại theo các mức độ bảo toàn, lọc ra và lấy những trẻ có KNBTKL ở mức 2, mức 3 và mức 4 làm mẫu nghiệm thể cho trắc nghiệm hành động (trừ những nghiệm thể bảo toàn khối lượng ở mức độ 1 của lần trắc nghiệm quan sát).

Cách tiến hành: Nghiệm viên chuẩn bị một chậu nước, 2 chiếc cốc có tiết diện rộng, hẹp khác nhau, cốc 1: rộng và nông; cốc 2: hẹp và cao hơn cốc 1. Sau đó cho trẻ tự tay đong 6 chén nước vào cả hai cốc. Yêu cầu trẻ nhận xét lượng nước ở hai cốc.

Trong quá trình làm trắc nghiệm, chúng tôi đưa ra các câu hỏi cho trẻ, các câu hỏi này được sử dụng nhiều lần đối với trẻ và đưa ra những giả định, những gợi ý, định hướng để xem mức độ chắc chắn, ổn định về khái niệm bảo toàn ở trẻ. Chúng tôi dựa vào tất cả những dữ kiện trên để phân ra 4 mức độ sau: Mức độ 1: trẻ bảo toàn ổn định chắc chắn. Biểu hiện trong quá trình làm thực nghiệm là trẻ trả lời đúng ngay câu hỏi, giải thích rõ ràng câu trả lời và bảo vệ câu trả lời khi nghiệm viên lật lại câu trả lời; Mức độ 2: trẻ bảo toàn không ổn định. Biểu hiện: trẻ trả lời đúng và giải thích nhưng khi hỏi ngược lại hoặc lặp lại thì trẻ lại không thừa nhận sự bảo toàn nữa; Mức độ 3: trẻ bảo toàn ngẫu nhiên. Biểu hiện là trẻ trả lời đúng câu hỏi nhưng không biết giải thích hoặc giải thích không đúng, không phù hợp với câu trả lời; Mức độ 4: trẻ không bảo toàn. Biểu hiện là trẻ khẳng định ngay câu trả lời của mình là không thừa nhận sự bảo toàn về lượng nước khi được đổ sang bình hẹp và cao hơn.

 

 

2.1.2. Kết quả trắc nghiệm.Kết quả trắc nghiệm được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1. Mức độ bảo toàn khối lượng của các nghiệm thể dựa trên kết quả trắc nghiệm quan sát và trắc nghiệm hành động.

 

 

Trắc nghiệm quan sát

(n = 83)

Trắc nghiệm hành động

(n = 77)

Số lượng

(%)

Số lượng

(%)

1

6

7,2

6

7,8

2

19

22,9

25

32,5

3

10

12,1

12

15,5

4

48

57,8

34

44,2

 

Kết quả trắc nghiệm cho thấy, số trẻ em có KNBTKL ở mức 1 chiếm tỷ lệ không nhiều. Đa số các nghiệm thể chúng tôi tiến hành trắc nghiệm quan sát chưa có khả năng bảo toàn theo đúng nghĩa (tức là bảo toàn ở mức 1 – mức ổn định). Bằng chứng là chỉ có 7.2 % nghiệm thể bảo toàn ở mức 1. Có thể thấy sự chênh lệch khá lớn giữa mức độ bảo toàn về khối lượng, đặc biệt là sự chênh lệch giữa mức 1 và mức 4, số trẻ có khả năng bảo toàn ở hai mức 3 và 4 (mức bảo toàn ngẫu nhiên và không bảo toàn) chiếm tới  80% tổng số trẻ tham gia các bài tập bảo toàn về khối lượng. Như vậy, sự phân bố các nghiệm thể không đồng đều ở các mức độ bảo toàn và đa số các nghiệm thể rất yếu KNBTKL. Điều này hoàn toàn phù hợp với lí luận của J.Piaget. Bởi trong những công trình nghiên cứu của ông đã xác nhận trẻ lên 8 – 9  tuổi mới có khả năng này. Tuy nhiên, Trong những nghiên cứu của J.Piaget chỉ xác nhận là có hay không có thao tác bảo toàn ở trẻ chứ chưa định mức mức độ bảo toàn. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã định ra bốn mức độ về khả năng bảo toàn của trẻ.

Có 7.2 % trẻ có khái niệm bảo toàn khối lượng ở mức chắc chắn và ổn định. Những trẻ này rất tự tin vào câu trả lời, trẻ đã có khả năng bù trừ và đảo ngược trong nhận thức và điều này giúp trẻ giải thích được một cách rõ ràng vì sao mức nước ở cốc 3 dâng cao hơn nhưng lượng nước không đổi. Có trẻ đã biết suy luận theo lối bắc cầu: cốc 1 bằng cốc 2, cốc 2 đổ sang cốc 3 vì vậy nước ở cốc 1 và 3 bằng nhau. Hay có trẻ đã giải thích trên cơ sở của sự bù trừ. Chẳng hạn nghiệm thể Đào Huyền Trang – trường Mầm non Chiềng Lề trả lời nghiệm viên (NV) như sau:

NV: Giót nước vào cốc 1 và 2 có hình dạng giống nhau và lượng nước như nhau. Sau đó hỏi trẻ: cháu thấy lượng nước ở hai cốc này có bằng nhau không?

Trẻ: có ạ

NV: Bây giờ cháu hãy quan sát. Cô sẽ đổ cốc này sang cốc thứ 3 này (hẹp và cao hơn). cháu xem lượng nước ở cốc 1 và cốc 3 có bằng nhau không?

Trẻ: có ạ

NV: vì sao?

Trẻ: vì hai cốc này bằng nhau (trẻ chỉ vào cốc 1 và 2)

NV: Cô nghĩ cốc này nhiều hơn, cháu nghĩ thế nào? Có phải nhiều hơn hay bằng nhau?

Trẻ: bằng nhau ạ

NV: sao cốc này nhiều nước hơn mà lại bằng nhau?

Trẻ: vì cốc đấy cao hơn nhưng cốc này to hơn nên bằng nhau

NV: cao hơn thì nhiều nước hơn phải không?

Trẻ: không ạ. Bằng nhau.

Nếu những trẻ đạt bảo toàn ở mức 1 luôn khẳng định và giải thích được câu trả lời của mình thì những trẻ ở mức 2 đã có luôn bị ảnh hưởng mạnh mẽ của hình ảnh tri giác và sự định hướng của người khác. Trẻ chưa thực sự thoát khỏi hình ảnh tri giác dẫn đến việc có lúc thừa nhận, có lúc lại không thừa nhận sự bảo toàn về lượng nước. Chẳng hạn: nghiệm thể Lương Hồng Phúc – trường Mầm non Chiềng Lề trả lời như sau:

NV: Cháu thấy lượng nước ở cốc 1 và 3 thế nào?

Trẻ: Cốc 3 nhiều hơn

NV: Vì sao?

Trẻ: Vì cao hơn

NV: Nhưng cô đổ nước từ cốc 2 sang, mà cốc hai lại bằng cốc 1 vậy lượng nước ở hai cốc này thế nào? (cốc 1 và 3)

Trẻ: Bằng nhau ạ?

NV: Dao nãy cháu bảo cốc 3 nhiều hơn?

Trẻ: Vì cao hơn

NV: Lượng nước ở hai cốc có bằng nhau không?

Trẻ: Không

NV: Giả sử cô đổ nước từ cốc 3 trở lại cốc 2 thì nước ở cốc 1 và 2 có bằng không?

Trẻ: Có ạ.

NV: vậy hai cốc này (1 và 3) có bằng nhau không

Trẻ: không

NV: cô đổ lại nhé (đổ nước từ cốc 3 ngược trở lại cốc 2). Cháu thấy bằng nhau không?

Trẻ: có ạ

NV: nếu bây giờ cô lại đổ nước từ cốc này sang cốc ba thì lượng nước ở cốc 3 có bằng lượng nước ở cốc 2?

Trẻ: bằng

NV: Vì sao?

Trẻ: vì hai cốc này bằng nhau (chỉ vào cốc 1 và 2)

NV: cô đổ nhé, lượng nước hai cốc có bằng nhau không

Trẻ: có ạ

Chúng tôi đã yêu cầu trẻ dự đoán lượng nước trước khi chúng tôi tiến hành hành động đổ nước sang cốc 3 (hẹp và cao hơn). Trẻ có khả năng bảo toàn ở mức này đều dự đoán được rằng lượng nước ở cốc 1 và 3 bằng nhau. Thậm chí có trẻ còn giải thích cho dự đoán đó là do nước ở cốc 1 và 2 bằng nhau. Nhưng khi tiến hành đổ nước thật thì chúng lại bị hình ảnh tri giác chế ngự, ở đây là hình ảnh mức nước ở cốc 3 dâng cao hơn khiến chúng phủ nhận sự bảo toàn mà trước đó đã khẳng định.Khi được yêu cầu dự đoán nước ở cốc 1 và 2 khi đổ cốc 3 về cốc 2. Hầu hết trẻ đều dự đoán được là chúng bằng nhau. Như vậy tức là trẻ đã có thể hình dung trước quá trình ngược lại, có khả năng đảo ngược. Tuy nhiên, điều này cũng không làm trẻ có khái niệm bảo toàn thực sự.

 

Dựa trên kết quả của thực nghiệm quan sát, chúng tôi chọn mẫu thực nghiệm hành động là 77 nghiệm thể có KNBTKL ở mức 2, 3 và 4 của thực nghiệm quan sát. Chúng tôi tiến hành cho trẻ hành động với riêng từng nhóm trẻ theo mức độ như trên và kết quả thu được là: trong 19 trẻ bảo toàn ở mức 2 của thực nghiệm quan sát sau khi được hành động thì có 3 trẻ tăng mức độ bảo toàn lên mức 1, 15 trẻ lên mức 2 và 1 trẻ tăng lên mức 3; 10 trẻ bảo toàn ở mức 3 trong thực nghiệm quan sát có 1 trẻ tăng lên mức 1, 1 trẻ tăng lên mức 2, 7 trẻ tăng lên mức 3 và 1 trẻ vẫn ở mức 4; 48 trẻ bảo toàn ở mức 4 trong lần thực nghiệm quan sát có 2 trẻ tăng lên mức 1, 9 trẻ tăng lên mức 2, 4 trẻ tăng lên mức 3 và 33 trẻ vẫn ở mức 4. Kết quả trên cho thấy nếu cho trẻ hành động thì mức độ bảo toàn khối lượng của trẻ có xu hướng tăng lên. Điều này chứng tỏ hành động giúp trẻ làm tăng mức độ bảo toàn. Đồng thời còn cho ta thấy kết quả của lần trắc nghiệm quan sát tương đối ổn định. Để thấy rõ hơn vai trò của việc hành động với KNBTKL chúng ta nghiên cứu trường hợp của nghiệm thể Quàng Trà My – trường Mầm non Hua La (có khả năng bảo toàn khối lượng ở mức IV trong thực nghiệm quan sát và đạt mức 1 trong trắc nghiệm hành động) sau khi tự mình đong 6 chén nước vào hai cốc có tiết diện rộng hẹp khác nhau trả lời nghiệm viên như sau:

NV: cháu thấy lượng nước ở cốc thứ nhất và cốc thứ hai thế nào?

Trẻ: không bằng nhau

NV: cốc nào nhiều hơn

Trẻ:  chỉ vào cốc hẹp và cao

NV: Cháu vừa đong mấy chén nước vào cốc thứ nhất

Trẻ: 6 ạ

NV: cháu đong mấy chén nước vào cốc thứ hai

Trẻ: 6 ạ

NV: lượng nước ở cốc thứ nhất và cốc thứ hai thế nào?

Trẻ: bằng nhau ạ

NV: Vì sao?

Trẻ: Vì đều có 6 chén nước.

NV: sao lúc nãy cháu bảo cốc này (hẹp va cao) nhiều hơn

Trẻ: vì cốc đó cao hơn

NV: cốc này cao hơn là nhiều nước hơn phải không

Trẻ: không ạ

NV: lượng nước thế nào?

Trẻ: bằng nhau ạ

NV: vì sao

Trẻ: vì cháu đều có 6 chén nước.

Trong trường hợp trên lúc đầu trẻ không thừa nhận sự bảo toàn nhưng khi NV hỏi lại quá trình làm, trẻ hiểu và khẳng định chắc chắn ngay sự bằng nhau dù NV có hỏi lại nhiều lần, đồng thời giải thích được sự bằng nhau đó.

2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển KNBTKL của trẻ 5 – 6 tuổi tại Sơn La

Bảng 2. Mức độ bảo toàn khối lượng của các nghiệm thể dựa trên kết quả trắc nghiệm quan sát và trắc nghiệm hành động  theo địa bàn cư trú.

Mức

Độ

Trắc nghiệm quan sát

Trắc nghiệm hành động

Chiềng Lề

(n = 43)

Hua La

(n = 40)

Chiềng Lề

(n = 38)

Hua La

(n = 39)

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

5

11.6

1

2.5

5

13.2

1

2.5

2

15

34.9

4

10

9

23.7

6

12.8

3

6

14

4

10

5

13.2

7

18

4

17

39.5

31

77.5

19

50

26

66.7

Bảng 3. Mức độ bảo toàn khối lượng của các nghiệm thể dựa trên kết quả trắc nghiệm quan sát theo yếu tố tâm lý.

Tiêu chí

Tiêu chí 1

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

Mức độ

Đạt

(n = 55)

Không đạt

(n = 28)

Đạt

(n = 67)

Không đạt

(n = 16)

Đạt

(n = 71)

Không đạt

(n = 12)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

I

5

9,1

1

3,6

6

12,3

0

0

6

8,4

0

0

II

16

29,1

3

10,7

17

34,7

2

5,9

19

26,8

0

0

III

6

10,9

4

14,3

8

16,3

2

5,9

10

14,1

0

0

IV

28

50,9

20

71,4

18

36,7

30

88,2

36

50,7

12

100

Bảng 4. Mức độ bảo toàn khối  lượng của các nghiệm thể dựa trên kết quả trắc nghiệm hành động  theo yếu tố tâm lý.

Tiêu chí

Tiêu chí 1

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

Mức độ

Đạt

(n = 50)

Không đạt

(n = 27)

Đạt

(n = 61)

Không đạt

(n = 16)

Đạt

(n = 65)

Không đạt

(n = 12)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

I

4

8

2

7,4

5

11,6

1

2,9

6

9,3

0

0

II

18

36

7

25,9

16

37,2

9

26,5

24

36,9

1

8,3

III

8

16

4

14,8

9

21

3

8,8

11

16,9

1

8,3

IV

20

40

14

51,9

13

30,2

21

61,8

24

36,9

10

83,4

Tiêu chí 1: Nghe hiểu và thực hiện được chỉ dẫn liên quan đến 2, 3 hành động.

Tiêu chí 2: Khả năng suy luận.

Tiêu chí 3:Biểu tượng về số và đo.

Nhìn vào bảng 2, 3 và 4 có thể nhận thấy:

Có sự chênh lệch khá lớn về các mức độ bảo toàn ở hai trường đại diện cho vùng nội thành và ngoại thành. Số liệu ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ trẻ có KNBTKL đạt ở mức 1 cả hai lần trắc nghiệm của trường mầm non Chiềng Lề cao hơn nhiều so với trẻ trường mầm non Hua La. Đồng thời cũng nhận thấy việc cho trẻ hành động làm tăng mức độ bảo toàn ở cả hai vùng nội thành và ngoại thành. Chúng tôi tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt về tỉ lệ mức độ bảo toàn giữa hai trường qua việc tìm hiểu địa bàn hai trường chiếm đóng. Chúng tôi thấy có sự khác biệt lớn về môi trường văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế cũng như cơ sở vật chất ở hai vùng này. Trường mầm non Chiềng Lề là một trường điểm của thành phố, trường nằm ở Phường Chiềng Lề - thành phố Sơn La, là khu trung tâm của thành phố nên điều kiện sống, cơ sở vật chất của các cháu rất tốt. Hơn nữa các cháu được quan tâm, chăm sóc chu đáo của gia đình và đặc biệt các cháu được tham gia nhiều hoạt động khác nhau kể cả ở trường lẫn ở nhà. Bố mẹ các cháu đa phần la là công chức nhà nước nên có điều kiện quan tâm, chăm sóc đến con em mình về cả thể chất và phát triển trí tuệ. Với môi trường như vậy sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tâm lí, nhận thức của trẻ, đồng thời trẻ phát triển thể chất tốt. Điều này có thể đẩy nhanh sự phát triển trí tuệ cũng như sự trưởng thành của cơ thể. Trẻ ở môi trường này mạnh dạn, tự tin. Ngược lại, những trẻ ở trường Hua La rất nhút nhát, ít nói. Chúng tôi rất khó tiếp cận với các cháu vì các cháu hay tránh né, sợ sệt. Phải mất rất nhiều thời gian làm quen chúng tôi mới có thể tiến hành những bài tập trắc nghiệm với các cháu. Hơn nữa, có đến 95% cha mẹ các cháu trường mầm non Hua La là nông dân, điều kiện kinh tế gia đình rất khó khăn. Vì vậy, không có điều kiện chăm sóc con cái và điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí trẻ nói chung và khả năng bảo toàn của trẻ nói riêng.

            Yếu tố tâm lí có ảnh hưởng mạnh mẽ đến KNBTKL của trẻ, đặc biệt là ở mức 1. Kết quả ở bảng 3 và 4 cho ta thấy, ở cả hai lần trắc nghiệm thì tỷ lệ trẻ đạt ở những tiêu chí 1, 2 và 3 có KNBTKL cao hơn những trẻ không đạt ở các tiêu chí này. Trong các tiêu chí đó thì biểu tượng số và đo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến KNBTKL. Bằng chứng là 100% trẻ không đạt được tiêu chí này đều có KNBTKL ở mức 4 trong lần trắc nghiệm quan sát và đạt mức 1 trong lần trắc nghiệm hành động.

Chúng tôi cũng phân tích kết quả trắc nghiệm theo yếu tố dân tộc và giới tính. Tuy nhiên không có sự khác biệt lớn về mức độ bảo toàn khối lượng khi phân tích theo hai yếu tố này. Nói cách khác yếu tố dân tộc và giới ít can thiệp vào KNBTKL ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.

           

3. Kết luận

            Kết quả nghiên cứu đã cho thấy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã có KNBTKL ở các mức độ khác nhau, do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến sự khác biệt về điều kiện sống, học tập và hoạt động của các em. Yếu tố tâm lí đặc biệt là biểu tượng về số và đo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến KNBTKL ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Đa số trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chưa có khả năng bảo toàn khối lượng ở mức độ chắc chắn ổn định. Kết quả nghiên cứu cũng đã một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của hành động đối với việc hình thành và phát triển KNBTKL ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong việc chuẩn bị về mặt trí tuệ cho trẻ vào lớp 1, nhà giáo dục cần tạo điều kiện cho trẻ tích cực hành động nhằm phát triển tâm lý nói chung và KNBTKL nói riêng ở trẻ. Ngoài ra, nhà giáo dục cũng cần cải thiện môi trường sống và hoạt động của trẻ, đồng thời phát triển những yếu tố tâm lí có ảnh hưởng đến khả năng bảo toàn khối lượng cho trẻ như: ngôn ngữ, biểu tượng về số, sự phối hợp khéo léo vận động, khả năng suy luận.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Minh Hạc (1998), Tâm lí học Vư – Gốt – Xki, tập 1, Nxb Giáo dục.

[2] Phan Trọng Ngọ (chủ biên) (2000) Tâm lí học trí tuệ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

[3] Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi (2000), Tâm lý học hoạt động và khả năng ứng dụng vào lĩnh vực dạy học, NXB Quốc gia Hà Nội.

[4] Dương Diệu Hoa (chủ biên) (2008), Tâm lí học phát triển, Nxb Đại học Sư phạm.

[5] J.Piaget, B.Inhelder, Vĩnh Bang (2000), Tâm lí học trẻ em và ứng dụng tâm lí học Piaget vào trường học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

 

 

ABSTRACT

Defining 5-6 year old chidren’s skills of the quantity conservation

in Son La city.

Raising children’s awareness and intellect, preparing them to be in grade 1 is extremely important and necessary, because this is the background stage of establishing the following intellectual activities. Among the elements establishing their intellectual activities, the conservation of quantity is an issential one and it is an important criterion deciding the presence of intellectual activities. In this research we studied children’s skills of quantity conservation through tests at two levels which are observation tests and action tests, in order to defining the level, tendency and and role of action to the presence of intellectual activities. Then, educationists will understand more about the process of establishing children’s intellectual activities in general and their skills of quantity conservation in particular, which contributes to the preparation for children before grade 1.

 

 

 

Tác giả: Đoàn Anh Chung

Học vị: Thạc sỹ

Đơn vị công tác: Khoa Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Tây Bắc. Tổ 2 , phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Điện Thoại: 01699388324

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.