BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC HỌC VĂN HỌC CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC - ThS. Điêu Thị Tú Uyên

BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC HỌC VĂN HỌC

CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, GIÁO DỤC MẦM NON  TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ThS. Điêu Thị Tú Uyên

Tổ Khoa học cơ bản, Khoa Tiểu học - Mầm non

Tóm tắt: Trong chương trình đào tạo Đại học giáo dục tiểu học và Đại học giáo dục mầm non, các học phần văn học chỉ là môn học cơ bản nhưng lại có vị trí hết sức quan trọng. Đó là các học phần tiên quyết để học tập nhiều môn chuyên ngành, là nền tảng kiến thức cho sinh viên trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình dạy môn Tiếng Việt (đối với bậc học tiểu học) và dạy lĩnh vực phát triển ngôn ngữ (đối với bậc học mầm non) khi trở thành giáo viên. Từ việc đánh giá tình hình học tập văn học của sinh viên hai chuyên ngành trên tại khoa Tiểu học - Mầm non, tác giả bài viết đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm giúp nâng cao tính tích cực học tập văn học của sinh viên: xây dựng và thông báo kế hoạch giảng dạy cho sinh viên; hướng dẫn sinh viên cách tự học và cách học tập trên lớp; kết hợp chặt chẽ giữa cung cấp kinh nghiệm học tập gắn với kinh nghiệm thực tiễn cho người học; tổ chức hoạt động nghiên cứu cho sinh viên hướng đến mục tiêu tạo ra sản phẩm học tập; tổ chức các hoạt động thực tế, tham quan, ngoại khoá, sinh hoạt chuyên đề văn học, thi “Sinh viên yêu thích văn học”; ứng dụng công nghệ thông tin một cách phù hợp đặc trưng môn học và có hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giờ học văn.

1. Vài nét về tình hình học tập văn học của sinh viên chuyên ngành giáo dục tiểu học và giáo dục mầm non Trường Đại học Tây Bắc

Trong trường đại học, học tập không chỉ là nhiệm vụ chính mà còn là nhiệm vụ mang nhiều tính chất đặc thù của sinh viên so với học sinh ở bậc học phổ thông. Tính chất đặc thù thể hiện ở tính chuyên ngành, chuyên nghiệp, và tính tích cực, chủ động trong tiếp thu và xử lý tri thức khoa học. Nói như vậy, tính tích cực, chủ động chính là một nhiệm vụ quan trọng của sinh viên khiến họ vươn đến một tầm cao mới trong việc làm chủ kho tri thức khoa học của nhân loại.

Trên thực tế, tại khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc, đa phần sinh viên ngày càng phát huy được sự tích cực, chủ động trong nắm bắt tri thức khoa học. Đây là hệ quả của việc đổi mới phương pháp dạy học đại học được quan tâm sâu sắc, hình thức dạy học truyền thống (người dạy truyền thụ kiến thức, sinh viên tiếp nhận kiến thức) đã được khắc phục, bổ sung, thay đổi cho phù hợp với yêu cầu lấy người học làm trung tâm. Đặc biệt, trong những năm gần đây, hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ đang được áp dụng ngày càng quy củ, bài bản vào trong chương trình đào tạo đại học nói chung, chương trình đào tạo của Trường Đại học Tây Bắc nói riêng. Nó thể hiện rất rõ xu thế dạy học lấy người học làm trung tâm. Sinh viên được tạo điều kiện để thực sự trở thành chủ thể học tích cực. Họ không chỉ tiếp thu kiến thức thụ động từ người dạy mà phải là những người biết cách học thế nào. Họ còn có thêm vai trò là người cùng trao đổi trong nhóm, trong lớp học, người tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học. Khác với đào tạo theo niên chế, trong khối lượng học tập của hệ tín chỉ, số tiết tự học tăng, được tính vào chương trình học, có hướng dẫn, có sự kiểm tra, đánh giá kết quả của giảng viên. Hơn nữa, việc đánh giá thường xuyên theo học chế tín chỉ cũng giảm tình trạng sinh viên đợi đến lúc thi mới học, mới ôn. Với quy chế đánh giá điểm này, sinh viên phải nỗ lực trong suốt quá trình học tập môn học.

Tuy nhiên, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận một cách sâu sắc thực tế, để thấy kết quả chưa phải đã hoàn toàn khả quan. Một bộ phận sinh viên trong khoa Tiểu học - Mầm non, khi học tập một số học phần khoa học xã hội, nhất là văn học còn chưa thực sự tích cực, chủ động nghiên cứu, nắm bắt và xử lý kiến thức phục vụ cho quá trình học tập của cá nhân. Quan niệm học văn chủ yếu là nghe giảng và ghi chép; tâm lý thụ động, chờ đợi thầy cô cung cấp kiến thức, ghi chép, làm đề cương, ôn tập, thi theo cách học cũ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận sinh viên. Những sinh viên này tỏ ra chưa thích ứng, hoặc chưa quan tâm tới các hoạt động mang tính chủ động trên đây khi học tập. Trong số họ, có nhiều sinh viên thậm chí còn vụng về ngay cả trong thao tác đơn giản là ghi chép nhanh những thông tin kiến thức cần thiết mà giảng viên trao đổi trên lớp. Nhiều sinh viên còn ấu trĩ trong việc cập nhật thông tin từ nhiều nguồn tư liệu đa dạng, phong phú, hiện đại như báo chí, Internet..., hoặc không quan tâm tìm đọc tác phẩm, đọc các tài liệu tham khảo có liên quan đến môn học (ngay cả khi giảng viên đã giới thiệu tên tài liệu, chỉ dẫn cách đọc)... Có những trường hợp chưa thành thạo trong cách xử lý các đơn vị kiến thức thu được từ các nguồn. Ví dụ, trong khi dạy bài Truyện ngụ ngôn (Chương 2, Các thể tự sự dân gian Việt Nam, Học phần Văn học dân gian - đối tượng: sinh viên Cao đẳng giáo dục Mầm non – năm học 2012 - 2013), chúng tôi yêu cầu sinh viên thực hiện các công việc sau: chuẩn bị giáo trình; thu thập tài liệu tham khảo; đọc bài giới thiệu về Truyện ngụ ngôn trong giáo trình Văn học dân gian (Đinh Gia Khánh chủ biên – NXB GD) và các bài giới thiệu có liên quan trong các tài liệu tham khảo khác; chọn lọc, hệ thống các đơn vị kiến thức trọng tâm (theo hệ thống câu hỏi của giảng viên) và viết báo cáo nhóm; trình bày báo cáo nhóm, thảo luận tập thể lớp; thảo luận, trao đổi cùng giảng viên trong giờ học chính khoá để thống nhất kiến thức. Kết quả: có 2/4 nhóm không biết cách xử lý thông tin kiến thức, nên báo cáo vừa không thể hiện được việc thu thập các đơn vị kiến thức trọng tâm vừa nghèo nàn, đơn điệu, không có dẫn chứng thuyết phục, hành văn rườm rà, thiếu khúc chiết. Đặc biệt, trong thư mục tài liệu tham khảo mà sinh viên báo cáo lại không có nhiều đầu tài liệu. Cá biệt có nhóm chỉ đọc một cuốn giáo trình. Trong khi đó, ngay từ khi bắt đầu học tập học phần, giảng viên đã dành thời gian hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, tự nghiên cứu chuẩn bị kiến thức theo đặc trưng môn. Điều đó chứng tỏ một số sinh viên thiếu năng lực học tập và không quan tâm đến việc phải chủ động chiếm lĩnh tri thức mà chỉ trông đợi vào giảng viên và bạn học cung cấp cho mình. Kết quả, giờ học không thể đạt được hiệu quả tối đa như mong muốn. Hậu quả là những sinh viên đó sẽ mất dần khả năng chủ động, sáng tạo trong học tập. Điều này gây ra ảnh hưởng lâu dài hơn, khi ra công tác, sinh viên sẽ không thể tự lực thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn để trở thành người giáo viên giỏi.

Trong giờ học văn, nhiều  sinh viên không quan tâm đến hoạt động thảo luận, thực hành, là những hoạt động quan trọng nhằm giải quyết thấu đáo các đơn vị kiến thức có vấn đề, và giúp tạo sự cộng tác chặt chẽ giữa người học - người học, người học - người dạy. Sức ỳ của những sinh viên này rất lớn. Nếu yêu cầu chuẩn bị thảo luận theo nhóm, họ sẽ ỷ lại, trông đợi vào những bạn học khá đại diện nhóm làm hộ mọi việc. Còn nếu yêu cầu nêu ý kiến trong giờ thảo luận trên lớp, họ sẽ tìm cớ thoái thác, hoặc trả lời cho xong việc. Ví dụ: Ý kiến của em cũng giống ý kiến của các bạn; em cũng đồng ý với ý kiến của bạn...

Văn học là lĩnh vực đặc thù, nó vừa là môn học vừa là một loại hình nghệ thuật. Sinh viên tham gia học văn không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức, phục vụ lâu dài cho quá trình học tập và ra giảng dạy sau này mà còn thông qua việc tiếp xúc với văn chương để làm giàu tâm hồn mình, để sống tinh tế, nhạy cảm và sâu sắc hơn. Vì thế, việc yêu văn học, say mê với môn văn và chủ động, tích cực tham gia học tập văn học đối với sinh viên trong xu thế hiện nay cần được quan tâm một cách sâu sắc. Để khắc phục tình trạng trên và nâng cao hơn nữa tính tích cực, chủ động của một bộ phận sinh viên còn thụ động trong học tập văn học, theo tôi, người dạy cần thực hiện một số biện pháp cụ thể nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy trên lớp và phương pháp hướng dẫn sinh viên học tập.

2. Biện pháp nâng cao tính tích cực của sinh viên chuyên ngành giáo dục tiểu học và giáo dục mầm non trong học tập văn học

Hiện nay, khung chương trình đào tạo mới của hai chuyên ngành này gồm các học phần cụ thể về văn học: đối với Đại học giáo dục tiểu học (ĐHGDTH) là học phần Văn học (5 tín chỉ) (giới thiệu văn học dân gian, văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi nước ngoài), Cao đẳng giáo dục tiểu học (CĐGDTH) là học phần Văn học (4 tín chỉ) (giới thiệu văn học dân gian, văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi nước ngoài); đối với Đại học giáo dục mầm non (ĐHGDMN) và Cao đẳng giáo dục mầm non (CĐGDMN) là học phần Văn học dân gian (3 tín chỉ) (giới thiệu văn học dân gian Việt Nam, văn học dân gian nước ngoài dành cho thiếu nhi) và Văn học thiếu nhi (4 tín chỉ) (giới thiệu văn học thiếu nhi Việt Nam và văn học thiếu nhi nước ngoài).  Do môn học có những nét đặc thù (vừa cung cấp kiến thức khoa học; rèn kỹ năng cảm thụ văn chương vừa bồi dưỡng tinh thần, bồi dưỡng thái độ, tư tưởng, tình cảm cho người học) nên để đạt được hiệu quả tốt nhất, khi giảng dạy, giảng viên cần quan tâm đến một số biện pháp cơ bản:

2. 1. Xây dựng và thông báo kế hoạch giảng dạy (Đề cương chi tiết học phần) cho sinh viên

Trước khi học tập học phần, giảng viên cần căn cứ vào Đề cương chi tiết học phần đã được duyệt để hoạch định toàn bộ kế hoạch giảng dạy bộ môn và giới thiệu cụ thể với sinh viên để các em nắm bắt được những đơn vị kiến thức sẽ được học tập, nghiên cứu; phương pháp học tập, nghiên cứu các đơn vị kiến thức đó; tác phẩm văn học, giáo trình và các nguồn tài liệu tham khảo khác.

2.2. Hướng dẫn sinh viên cách tự học và cách học trên lớp

a. Đối với việc tự học

Giảng viên cần quan tâm và hướng dẫn sinh viên các kỹ năng tự học cụ thể: kỹ năng đọc tác phẩm văn học (kỹ năng này nên được quan tâm hàng đầu, vì hiện nay, sinh viên và giới trẻ nói chung thường ngại và thiếu kỹ năng đọc văn, nhất là các tác phẩm văn học cổ, trung đại); kỹ năng đọc tài liệu, sàng lọc thông tin từ tài liệu; kỹ năng lựa chọn thông tin mang tính vấn đề; kỹ năng tạo lập sơ đồ kiến thức trọng tâm; kỹ năng đặt ra và cùng các đối tác học tập (bạn cùng nhóm, bạn cùng lớp, giảng viên) giải quyết vấn đề...

Ví dụ: Đối với việc chuẩn bị cho bài Truyện ngụ ngôn (Chương 2, Các thể tự sự dân gian Việt Nam, Học phần Văn học dân gian, đối tượng: ĐHGDMN, CĐGDMN), giảng viên cần hướng dẫn sinh viên chủ động tự học, tự nghiên cứu trước khi đến lớp bằng các hoạt động cụ thể. Các hoạt động cơ bản là đọc các truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam; tóm tắt nội dung chính của mỗi truyện; đọc giáo trình và tài liệu tham khảo, tập trung vào những thông tin chính: khái niệm, bản chất thể loại, nội dung cơ bản và đặc trưng nghệ thuật của thể loại; lựa chọn những thông tin mang tính vấn đề để cùng trao đổi, thảo luận với đối tác học tập như: sự khác nhau về đối tượng và mục đích phản ánh giữa thể loại ngụ ngôn và thể loại cổ tích (nhóm cổ tích loài vật); sự khác nhau về cách sử dụng tiếng cười giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười dân gian; sự khác nhau về nội dung và nghệ thuật giữa truyện ngụ ngôn Việt Nam và truyện ngụ ngôn thế giới; những cách quan niệm khác nhau về truyện ngụ ngôn; quan niệm của con người đương đại về giá trị của truyện ngụ ngôn... 

b. Đối với việc học ở trên lớp

Giảng viên cần tạo cho sinh viên nhiều hơn nữa cơ hội phát huy tối đa sự chủ động của cá nhân đối với các hoạt động học tập. Nói như thế không có nghĩa là giảng viên chỉ nêu yêu cầu học tập để sinh viên tự thực hiện. Trong dạy học, dù hình thức đào tạo có thay đổi, có tiên tiến đến đâu thì vai trò người hướng dẫn chiếm lĩnh tri thức khoa học vẫn thuộc về người thầy. Chỉ có điều, người thầy trên lớp học hiện nay phải hết sức năng động, linh hoạt để vừa truyền thụ kiến thức hàn lâm vừa thu hút sinh viên vào các hoạt động học tập, khuyến khích họ thể hiện sự năng động, sáng tạo của bản thân. Ví dụ:

- Tổ chức cho sinh viên thực hiện các hoạt động học tập theo nhóm: chuẩn bị báo cáo nhóm (cùng tìm tư liệu, cùng đọc, tìm cách xử lý thông tin phù hợp với yêu cầu môn học, viết báo cáo thu hoạch cá nhân và đối chiếu, thảo luận để chọn thông tin mang tính vấn đề); thảo luận nhóm trên lớp nhằm thống nhất quan điểm hoặc tranh luận tìm giải pháp giải quyết vấn đề; thảo luận với giảng viên (trong và ngoài giờ học) để tìm được cái đích của những thắc mắc khoa học; tiếp tục quan tâm nghiên cứu vấn đề mở, để cập nhật thêm thông tin khoa học mới về vấn đề đã được trao đổi...  Trong hoạt động này, giảng viên nên chú ý đều tới các thành viên khác nhau của nhóm học tập chứ không nên chỉ khai thác thông tin từ đại diện nhóm. Việc này sẽ kích thích các sinh viên vốn thụ động hoặc nhút nhát tích cực tham gia vào việc nghiên cứu, học tập.

- Tổ chức cho sinh viên tham gia vào hoạt động sáng tạo trong học tập. Ví dụ: khi dạy bài Ca dao – dân ca (Chương 3, Các thể trữ tình dân gian Việt Nam, học phần Văn học dân gian – Đại học giáo dục mầm non, Cao đẳng giáo dục mầm non), giảng viên có thể dàn dựng một hoạt cảnh diễn xướng dân ca cho sinh viên trong lớp trực tiếp tham gia diễn xuất. Đây là hoạt động vừa tạo được cho sinh viên cái nhìn thực tế sâu sắc về đặc trưng nội dung, nghệ thuật của một thể loại văn học truyền thống vừa tạo được một không khí hào hứng, một ấn tượng mới lạ trong giờ học.

Đáng chú ý, do đặc thù của môn học, ở trên lớp, giảng viên không chỉ tạo ra các hoạt động học tập cho sinh viên mà cũng cần thể hiện vai trò của người bình văn một cách rõ nét, tránh biến giờ học văn thành giờ tổ chức các hoạt động học tập khô khan, chỉ thu nhận kiến thức. Để đạt được hiệu quả như mong muốn, cuốn hút sinh viên vào không khí văn chương, người dạy cần có những điểm nhấn kiến thức trọng tâm bằng lời bình hàm súc, có tính nghệ thuật. Đồng thời, người dạy văn cũng cần tạo không khí đặc biệt (có định hướng mà vẫn phóng khoáng tự do) cho giờ văn bằng cách để cho người học được bộc lộ một cách tự nhiên, thoải mái, cởi mở những thắc mắc, suy nghĩ riêng của mình về tác phẩm, về nhà văn, về các hiện tượng văn học. Giảng viên đừng làm người “chạy đua với nhà văn” trên con đường đi đến bạn đọc sinh viên mà nên đóng vai trò là người bạn đọc có kinh nghiệm hơn định hướng, giúp cho quá trình giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc sinh viên diễn ra đúng nghĩa, để nội tâm của nhà văn gặp gỡ nội tâm của bạn đọc trẻ tuổi. Điều đó giúp sinh viên phát huy tối đa vai trò của chủ thể tiếp nhận văn học, kích thích sinh viên yêu thích văn học và hứng thú với môn học hơn bao giờ hết.

2.3. Kết hợp chặt chẽ việc cung cấp kinh nghiệm học tập gắn với kinh nghiệm thực tiễn (nói cách khác là rèn luyện kỹ năng nghề) cho người học

Các học phần văn học trong chương trình đào tạo sinh viên đại học, cao đẳng (cả tiểu học và mầm non) là học phần điều kiện tiên quyết cho việc học nhiều học phần chuyên ngành. Hơn nữa, đây đều là các học phần cung cấp kiến thức cơ bản để khi tốt nghiệp sinh viên sử dụng trong dạy môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học hoặc dạy lĩnh vực Phát triển ngôn ngữ ở bậc mầm non. Vì lý do này, giảng viên nên kết hợp chặt chẽ việc cung cấp kinh nghiệm học tập gắn với kinh nghiệm thực tiễn (rèn luyện kỹ năng nghề) nhằm tăng cường thêm tính tích cực, chủ động cho người học. Ví dụ:

- Khi dạy Chương 4, Khái quát văn học thiếu nhi (học phần Văn học – Đại học giáo dục tiểu học), ngoài những đơn vị kiến thức cứng trong chương trình, giảng viên có thể yêu cầu sinh viên tiếp tục tìm hiểu, trao đổi về những thông tin mang tính thời sự như: quá trình phát triển và những thay đổi về quan niệm nghệ thuật, về nội dung, thi pháp của văn học thiếu nhi hiện nay; các tác giả, tác phẩm văn học thiếu nhi được độc giả nhỏ tuổi hiện nay yêu thích; giá trị giáo dục và những bất cập trong sách, truyện cho đối tượng thiếu nhi hiện nay... để sau này trở thành giáo viên tiểu học, các em có thể định hướng cho học trò tiếp xúc với những tác phẩm văn học tốt.

- Kết hợp các hoạt động học tập với hoạt động thực hành như rèn kỹ năng phân tích tác phẩm văn học; kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học để sinh viên có thêm năng lực cần thiết khi dạy học Tiếng Việt, Tập làm văn cho học sinh tiểu học hay dạy thơ, truyện cho trẻ mầm non. Các tác phẩm hoặc trích đoạn làm phương tiện cho hoạt động này thuộc chương trình Tiếng Việt tiểu học và chương trình thơ, truyện dành cho trẻ mầm non hiện hành.

2.4. Tổ chức hoạt động nghiên cứu cho sinh viên hướng đến mục tiêu tạo ra sản phẩm học tập

Không chỉ học các môn khoa học tự nhiên mà ngay cả học văn, nếu biết cách, sinh viên vẫn có thể hướng tới mục tiêu tạo ra các sản phẩm học tập. Nên, trong phạm vi và căn cứ vào đặc trưng của môn học, người dạy có thể tổ chức một số hoạt động nghiên cứu, học tập hướng đến mục tiêu tạo ra sản phẩm học tập cho sinh viên. Ví dụ: khi dạy các học phần văn học,người dạy có thể tập hợp các văn bản tác phẩm liên quan đến chương trình đào tạo, được giới thiệu lại trong chương trình phổ thông, yêu cầu sinh viên thu thập tài liệu (về xuất xứ của tác phẩm, các nhận định, đánh giá hay về tác phẩm, cảm thụ tác phẩm…), viết thu hoạch, tập hợp để giảng viên chỉnh sửa, in ấn thành tập tư liệu học tập. Ví dụ: những phần có thể tạo thành sản phẩm học tập như Văn học thiếu nhi Việt Nam (với tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, thơ Trần Đăng Khoa, thơ Phạm Hổ); Văn học thiếu nhi nước ngoài (với thần thoại Hy Lạp, ngụ ngôn La phông ten, truyện cổ Grim, truyện cổ Anđecxen…).Tư liệu này có tác dụng phục vụ chính quá trình học tập bộ môn cũng như quá trình dạy học cho học sinh bậc học tiểu học và mầm non sau này. Kiểu hoạt động học tập hướng đến mục tiêu tạo sản phẩm học tập sẽ thực sự kích thích sự chủ động, tính năng động, sáng tạo của sinh viên vì lợi ích thiết thực của nó.

2.5. Tổ chức các hoạt động thực tế, tham quan, ngoại khoá, sinh hoạt chuyên đề văn học, thi “Sinh viên yêu thích văn học” để bồi dưỡng thêm tính tích cực và năng lực văn học

Thông qua các hoạt động thực tế, tham quan, giảng viên có thể định hướng cho sinh viên quan tâm, thu nhận nhiều thông tin có liên quan đến môn học, ghi chép lại thành sổ tay văn học nhằm tích luỹ thêm tư liệu văn học khi cần thiết.

Đồng thời, giảng viên cũng có thể thông qua hoạt động ngoại khoá được tổ chức thường niên tại khoa (như Học vui - vui học, Rung chuông vàng) hoặc sinh hoạt chuyên đề văn học, thi Sinh viên yêu thích văn học… tăng cường khích lệ sinh viên tích cực thể hiện khả năng nắm bắt tri thức văn học, tri thức xã hội, khả năng giao tiếp, tổ chức và điều hành một hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực văn học. Mỗi một hoạt động dù nhỏ cũng là một cơ hội để sinh viên hiểu đời, hiểu mình, từ đó phát huy tối đa những năng lực đôi khi bị che lấp bởi sự e ngại, sự mặc cảm, tự ti vì không khá bằng bạn học khác. Trong trường hợp này, người dạy cần tinh ý và dành nhiều cơ hội hơn cho những sinh viên còn thụ động trong hoạt động học tập trên lớp.

2.6. Ứng dụng công nghệ thông tin một cách phù hợp đặc trưng môn học và có hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giờ học văn

Trong xu thế dạy học hiện đại, công nghệ thông tin trở thành một phần không thể thiếu của hoạt động học tập nhằm cung cấp cho người học những kênh kiến thức mới mẻ, hiện đại, hấp dẫn, thúc đẩy tính năng động, tích cực và sáng tạo của họ. Giờ học văn truyền thống cũng đã dần được thay thế bởi giờ học văn vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học, hiện đại bởi những phương tiện công nghệ thông tin hiện đại. Người dạy cần nắm bắt kịp thời, sáng tạo hình thức dạy học hiện đại này để làm mới môn Văn. Ví dụ trong các học phần văn học có một số đơn vị kiến thức như truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao – dân ca, văn học thiếu nhi Việt Nam và văn học thiếu nhi nước ngoài... có thể thiết kế bài giảng điện tử hoặc các kênh hình, kênh âm thanh minh hoạ nhằm giúp người học có thêm cái nhìn vừa mới mẻ vừa phong phú, sâu sắc kiến thức văn học vốn đã xa, rất xa với thời đại hiện đại. Chú ý, nguồn tư liệu này chỉ sử dụng như một trong các hình thức ví dụ minh hoạ chứ không nên lạm dụng làm mất đi thời gian và cơ hội tham gia các hoạt động học tập, thực hành thực tế của chủ thể sinh viên.

3. Thay cho lời kết

Văn học là một lĩnh vực đặc thù. Đối với sinh viên, nó vừa là môn học vừa là một loại hình nghệ thuật. Việc đọc văn, học văn không chỉ giúp sinh viên tích luỹ kiến thức mà còn làm phong phú tâm hồn mình, sống tinh tế, nhạy cảm và sâu sắc hơn. Yêu văn học, say mê với môn văn và chủ động, tích cực tham gia học tập văn học đối với sinh viên sẽ đem lại những lợi ích thiết thức, đầy ý nghĩa cho các em trong những năm tháng học đại học. Vấn đề quan trọng là cách học văn thế nào để đạt được ý nguyện. Những biện pháp đề xuất trên đây dù sao mới chỉ là suy nghĩ, kinh nghiệm tổ chức hoạt động dạy học của cá nhân, và trong khuôn khổ các học phần văn học chúng tôi trực tiếp giảng dạy cho sinh viên đại học giáo dục tiểu học và đại học giáo dục mầm non, cao đẳng giáo dục mầm non. Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi thêm của các đồng nghiệp.     

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chương trình Đại học giáo dục tiểu học; Chương trình Đại học giáo dục mầm non hiện hành (2013), Khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc.

[2] Phan Trọng Luận (2002), Văn học giáo dục thế kỉ XXI, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

MEASURES TO ENHANCE POSITIVE LITERATURE FOR  STUDENTS IN ELEMENTARY EDUCATION AND EARLY CHILDHOOD  EDUCATION

TAY BAC UNIVERSITY

DIEU THI TU UYEN

Abstract: During the training program the students of elementary education and early childhood education , the school is only part literary basic subjects but also the location is very important. That is the Prerequisite to study more specialized subjects, the knowledge base for students during the learning process as well as teaching Vietnamese (for primary school level) and teaching areas of language development (preschool to grade school) to become teachers. From the study evaluating the literature on student majoring in Elementary Science - Early Childhood, the author proposes some specific measures to enhance positive student academic literature Members: building and announced plans for student teaching; Guide students study methods and learning methods in the classroom; incorporated between providing learning experiences associated with practical experience (in other words, job skills training) for trainees; Organize activities for student research aims to create learning products; organize practical activities, field trips, extracurricular literature; application of information technology appropriately characterized subjects and practical efficiency to improve the quality of education now.